Nhà Báo Việt Thường

Nhà Báo Việt Thường

Tìm kiếm bài Blog than huu cua Nha Bao Việt Thường xin gõ chữ vào đây

Loading...

Wednesday, April 11, 2012

Đặng Phúc- Báo Đàn Chim Việt "về nguồn" tìm đường sống cho Tập Đoàn Việt Gian CS



http://nhabaovietthuong.blogspot.com/2012/04/ang-phuc-bao-chim-viet-ve-nguon-tim.html







Nhân việc báo điện tử Đàn Chim Việt ra bản thông cáo là sẽ mở văn phòng báo chí tại Hà nội ngày 1/6/2012.dựa trên những yếu tố như sau:

http://www.danchimviet.info/archives/55235

-vài năm trở lại đây, Đàn Chim Việt trở nên ôn hòa và mềm mỏng hơn. (**hòa hợp, hòa giải và mềm mỏng: xóa bỏ tội ác của Tập Đoàn Việt Gian CS, không chống việt gian cs)

-có những móc nối, yểm trợ, ngoại giao ngầm…trong thành phần lãnh đạo cao cấp của đảng việt gian cs.

-sẽ có đội ngũ phóng viên báo chí, công tác viên công an trường đảng tại Hà Nội tham gia. ( **tức là công an trường đảng được hoạt động trong nước và hoạt động gián điệp ngoài nước, hoàn toàn tự do đi lại dưới vỏ bọc phóng viên, cộng tác viên của báo Đàn Chim Việt).

- “Quyết định cho phép Đàn Chim Việt mở văn phòng tại Hà Nội được phê duyệt trong bối cảnh Việt Nam có những cải thiện nhất định về tự do báo chí, nhất là qua vụ việc Tiên Lãng khi các báo trong nước được phỏng vấn và đưa tin khá trung thực và khách quan. (sic!)

-Năm 2011 tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) xếp hạng thông tin của việt gian cs Việt Nam là 172/179 ( tức là cái thòng lọng kiểm duyệt báo chí được lỏng ra chừng vài phân. Cho nên “những thay đổi này sẽ giúp Tập Đoàn Việt Gian CS cải thiện tự do báo chí”.

Chúng tôi sẽ phân tích những lập luận “về nguồn, ôn hòa mềm mỏng” của báo Đàn Chim Việt, tìm đường sống cho Tập Đoàn Việt Gian CS  trong những bài tới.

Để hiểu biết về thành tích hoạt động “gián điệp” của nhóm Đàn Chim Việt tại Đông Âu , Âu châu trải rộng mạng lưới gián điệp tình báo đến Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới , xin quý đọc giả tìm hiểu thêm qua những bài viết, bài phỏng vấn của Nhà Báo Việt Thường từ  lúc Nhà Báo Việt Thường ra hải ngoại cho đến nay.

Năm 2004 Nhà Báo Việt Thường, tức là 8 năm về trước đã dự đoán trước vai trò hoạt động gián điệp nằm vùng của việt gian Vũ Thư Hiên, Tập Đoàn Việt Gian CS tại Đông Âu, Âu châu dẫn đến việc tệ nạn người rơm đến Âu Châu trồng cần sa, buôn cần sa trong diện rộng, buôn người lao động, buôn vũ khí, buôn nô lệ tình dục, buôn tiền giả, cướp xe hơi sang trọng mắc tiền đóng thùng gởi về Việt Nam và các quốc gia khác, dùng các trung tâm văn hóa, trung tâm sinh hoat cộng đồng thành căn cứ gián điệp tình báo, khủng bố, phá hoại an ninh v..v..

Sự tố giác của Nhà Báo Việt Thường về những hoạt động của Tập Đoàn Việt Gian CS lan rộng gây tác hại cho an ninh Âu châu nhất là trong thời điểm kinh tế bất ổn này đưa đến biện pháp trừng phạt như nước Đức đã có biện pháp tống xuất can phạm về Việt Nam. Vì lý do đó mà thằng hèn Tô Hải, Vũ Thư Hiên và những tay bút nô việt gian hải ngoại ra công đánh phá, bôi nhọ, vu cáo Nhà Báo Việt Thường trong những năm gần đây nhằm mục đích  bịt miệng. Trong lúc đó chúng xếp đặt những ngòi bút việt gian do công an trường đảng đào tạo xuất cảng ra hải ngoại như Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy v..v. dưới danh nghĩa “bất đồng chính kiến”,"đấu tranh"... . Và chúng đánh bóng cho những tên đảng viên giả “đấu tranh” như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn thanh Giang, Nguyễn Đan Quế, thằng hèn Tô Hải, Lê Thị Công Nhân, Hoàng Minh Chính. Trần Độ v..v..được nổi danh với thế giới?!?!?

Tài liệu phỏng vấn, bài viết,, sách của Nhà Báo Việt Thường được lưu trử trên nhiều web , và blogs xin mời độc giả vào google search tìm đọc tham khảo thêm.

Đặng Phúc. 

Xin giới thiệu bài viết của Nhà Báo Việt Thường năm 2004


Việt Thường- Vũ thư Hiên: “Chưa hết bệnh nói phét "



(đề nghị đặc công đỏ (KGB) Vũ Thư Hiên nên "thành khẩn " viết sách tự truyện như sau):




Việt Thường- Vũ thư Hiên: “Chưa hết bệnh nói phét "



Việt Thường bình về Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên


Vũ thư Hiên:
“Chưa hết bệnh nói phét!”
Việt Thường

Như lời giới thiệu của hãng thông tấn VNN (trụ sở tại Mỹ),  muốn biết: “Những suy tư cảm xúc thực sự của đồng bào miền Bắc Xã hội chủ nghĩa lúc ấy” về “Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước đưa tới cuộc Di cư vĩ đại của hơn một triệu đồng bào miền Bắc vào Nam”. Nên, lời giới thiệu cũng viết rằng:… “hãng thông tấn VNN rất hân hạnh được tác giả “Đêm giữa ban ngày” dành cho một cuộc phỏng vấn đặc biệt sau đây do phóng viên Võ triều Sơn thực hiện.”
Cuộc phỏng vấn đúng là đặc biệt thật. Vì cái thuở ấy – tức 1954 – làm gì có cái gọi là “đồng bào miền Bắc xã hội chủ nghĩa”(?!!!)
Rừng rú, nông thôn của miền Bắc Việt Nam phần lớn do các cố vấn Nga-xô – Lavritsép (đại sứ đặc mệnh toàn quyền) và cố vấn Tàu cộng – tướng La quý Ba (đại sứ đặc mệnh toàn quyền) giúp đỡ, chỉ đạo bộ máy quan lại đỏ địa phương, do tập đoàn Hồ chí Minh cầm đầu và cai trị, dưới cái tên thể chế chính trị là Việt Nam Dân chủ Công hòa!
Nhân dân ở thành phố, thị trấn và một phần nhỏ nông thôn gần các tỉnh, thành ở miền Bắc khi ấy, sống dưới chế độ “Quốc gia” do Quốc trưởng Bảo Đại chỉ đạo, có sự hỗ trợ của quân Pháp. Bộ máy công quyền của những vùng này đã được thực dân Pháp trao lại cho chính quyền Bảo Đại. Về mặt quân sự, quân đội Quốc gia Việt Nam cũng đang được xây dựng và phát triển cùng lúc với lực lượng Cảnh sát quốc gia và v.v…



Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam được ký xong, nhưng tận trưa 10-10-1954, binh lính của tập đoàn Hồ chí Minh mới hoàn thành cuộc chiếm đóng Hà-nội. Người dân Hà-nội được nghe “mệnh lệnh” đầu tiên của cái gọi là Uỷ ban Quân quản với thiếu tướng Vương thừa Vũ làm chủ tịch và phó chủ tịch là bác sỹ Trần duy Hưng.
Khái quát mà nói thì ít nhất ở miền Bắc Việt Nam lúc ấy có hai thành phần:

1) Những người đã và đang sống dưới sự đô hộ của tập đoàn Hồ chí Minh và các cố vấn Nga-xô, Tàu cộng.
2) Những người chỉ biết cái chế độ mà mình sẽ phải ráng chịu đựng trong hai năm (như quy định trong hiệp định Genève 1954 về Việt Nam) qua hình ảnh nhữngngười lính đội nón lá hình cối; đồng phục màu cỏ úa – lính áo hai túi, sỹ quan áo bốn túi. Nghĩa là y như một đoàn lính Tàu cộng nói sõi tiếng Việt, không biết nói tiếng Tàu (tất nhiên một số nào đó học từ Tàu cộng về thì nói được tiếng Tàu). Tất cả đi giày vải hoặc dép lốp, trông ốm yếu, đói ăn, vẻ mặt hơi thiếu tự tin, ngơ ngác như bị pháp sư thu mất vài vía!

Ai ở Hà-nội thì có thể thấy thêm “đoàn quay phim” Việt Nam dân chủ công hòa lúc ấy, trú đóng tại khách sạn Splendide, tọa lạc đầu ngã tư Ngô Quyền – Lý Thường Kiệt, có vài người Nga và Ba-lan tham gia trong đoàn. Đây là điển hình của cộng sản sau này: bắng nhắng, mất gốc, cứ tưởng cóc có thể lớn bằng bò! Trừ một vài người mặc quân phục mới còn nếp, mũ cối che vải dù có lưới (để cài lá ngụy trang), số còn lại mặc như học sinh, chỉ khác quần ống quá rộng, đầu đội mũ vải trắng (kiểu mũ của trẻ học vỡ lòng), các máy quay phim cổ lỗ như khẩu bích-kích-pháo, cười nói hô hố, thỉnh thoảng lại chêm mấy tiếng Nga: “Nhiét, nhiét”, “Kha-rát-sô”, “Ta-va-ritch”… khi nhìn thấy mấy tà áo dài yểu điệu đạp xe qua là cả bọn trố mắt nhìn như “đàn ốc nhồi bò ra khỏi chậu”” (Sau 30-4-1975, hình ảnh này cũng lặp lại ở Sài-gòn, có khác là ở trước khách sạn Caravelle trên đường Tự Do).

Vũ thư Hiên là một trong cái “trố mắt” đó. Thử hỏi, những câu trả lời phỏng vấn của Vũ thư Hiên có thể nào đại diện cho suy tư và cảm xúc thực sự của người miền Bắc lúc ấy không?
Câu trả lời đầu tiên của Vũ thư Hiên đã mơ hồ rồi. Vũ thư Hiên nói:
“Và nếu hiểu cho công bằng thì kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam, như những người cộng sản tự hào viết trong lịch sử đảng của họ. Kẻ thắng ở Điện-biên-phủ là toàn dân Việt Nam.”

Xin quý bạn đọc đừng tưởng Vũ thư Hiên phủ định công của “cộng sản”; và cũng đừng tưởng Vũ thư Hiên đề cao“toàn dân Việt Nam”!!! Những phần trả lời ở dưới, Vũ thư Hiên đã tuyên dương công trạng cho các tướng tá cộng sản, thí dụ như về Đặng kim Giang và Võ nguyên Giáp:
Hào quang của chiến thắng Điện-biên-phủ và tính cách nhũn nhặn vô song trước các đồng chí đối thủ đã cứu tướng Giáp. Tướng Đặng kim Giang, người đã tổ chức công việc hậu cần to lớn có ý nghĩa quyết định trong chiến thắng Điện-biên-phủ, thì không được như thế.”
Vũ thư Hiên, vì chủ yếu nói cho người Việt tỵ nạn cộng sản nghe, đọc, nên “mánh khóe” và “láu lỉnh” tách “công lao” của “toàn dân Việt Nam” riêng ra, và công lao của “những người cộng sản Việt Nam” riêng ra mà thôi.

*****

Sau cái ngu ngơ để mừng và tự hào về cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”, nhân dân miền Bắc Việt Nam được nếm mùi vị các cuộc “cách mạng long trời lở đất” do tập đoàn Hồ chí Minh thực thi, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Tàu công – Nga-xô, mà thực chất là: Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc, trốc tận rễ được mạ kền bằng các mỹ tự:

Giảm tô, giảm tức; cải cách ruộng đất (diệt địa);
* Chỉnh đốn tổ chức; chỉnh huấn mùa xuân; ôn nghèo nhớ khổ (diệt hào);
* Cách mạng văn hóa tư tưởng; đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm (diệt trí);
* Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (diệt phú).

Kể từ đó, chỉ có tập đoàn Hồ chí Minh là nhớ, tự hào và tổ chức mừng chiến thắng Điện-biên-phủ hàng năm. Còn nhân dân, nhất là sau các đợt hợp tác hóa ở cả nông thôn và thành thị, tất cả đều thành nô lệ đỏ (đặc thù nô lệ dưới sự đô hộ của Nga-xô – Tàu cộng, trong bối cảnh Liên-hiệp-quốc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân (1958) trên toàn thế giới).
Vì thế nhân dân bị tước hết tài sản và tất cả mọi quyền tự do. Chỉ còn quyền lao động, hy sinh, ca ngợi, phục tùng tuyệt đối các mẫu quốc Nga-xô – Tàu cộng và các lãnh tụ của chúng; đảng Lao động Việt Nam (tức cộng sản VN), “bác Hồ” và lũ tà-lọt của hắn được gọi là “lãnh tụ” hay “lãnh đạo” (tức ban chấp hành trung ương cộng sản).
Cho nên suy tư và cảm xúc thực sự” của nhân dân miền Bắc Việt Nam là Genève hay Điện-biên-phủ cũng chẳng có gì khác lạ với những cái tên như Paris, London; Mường-tê, Xi-ma-cai, Ba-vì v.v… Cái Điện-biên nằm trong lòng miền Bắc Việt Nam là thuốc lá Điện-biên bao bạc đối với dân hút mà thôi, chứ không phải “chiến thắng Điện-biên”.
Cái ma giáo của “phóng viên báo ảnh, bậc 3/6”; của “nhà văn xuất hiện trên “văng” đàn từ đầu thập niên 50”; của “một người không làm chính trị” – nhưng đi đâu cũng nói về chính trị còn… hơn người làm chính trị vì đang tìm thể chế chính trị thích hợp cho Việt Nam là Vũ thư Hiên mới khẳng định:

Vũ thư Hiên: Kẻ thắng ở Điện-biên-phủ là toàn dân Việt Nam. (!!!)

Chỉ khi nào Vũ thư Hiên khẳng định rằng tập đoàn cộng sản Việt Nam không nằm trong phạm trù nhân dân Việt Nam; thừa nhận trên thực tế đó là tập hợp của những tên Việt gian theo Nga-xô hoặc theo Tàu cộng thì mới được coi là thẳng thắn. Nếu không, đây chỉ là thủ đoạn của một kẻ nảy nòi từ chính sách trồng người của Hồ chí Minh, vì Vũ thư Hiên vẫn có thể giải thích rằng “người cộng sản Việt Nam cũng là người Việt Nam”.

Tập đoàn Hồ chí Minh làm xiếc chữ nghĩa để lừa người lương thiện. Vũ thư Hiên từng ngủ chung với Hồ (như Hiên khoe), đương nhiên học được ít ngón nghề, vì thế đã qua mặt phóng viên VNN để thêm tiếng cũng và lắt léo dài dòng.

Đoạn văn:
 “Và nếu hiểu cho công bằng thì kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam.” Tiếng cũng trong đoạn văn trên khiến suy tư của Vũ thư Hiên y chang tập đoàn Hồ chí Minh.
Thêm tiếng cũng có nghĩa là: kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam,còn có nhân dân nữa.
Không nắm được ót của những tên do chính sách trồng người của Hồ đẻ ra, dễ bị lừa mà tưởng rằng Vũ thư Hiên, một “nhà văn hồi ký” của cộng sản, phản tỉnhđã phủ định cộng sản Việt Nam trong cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”!!!
Khi nói đến cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”, bọn đầu nậu cộng sản qua các thời “tổng bí thư” đều nói rằng“toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của đảng và Hồ chủ tịch đã làm nên chiến thắng Điện-biên-phủ vẻ vang, anh hùng.”

Vũ thư Hiên chỉ “láu lỉnh” trong trò làm xiếc chữ nghĩa tý chút, hy vọng có thể làm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản và các thế hệ sau sẽ coi chiến thắng Điện-biên-phủ là của toàn dân Việt Nam, để từ đó hàng năm làm lễ kỷ niệm, tưởng niệm v.v… mà trước mắt là quên cái gốc con nuôi của thanh tra mật thám thực dân là Marty của Võ nguyên Giáp, quên tội ác của Giáp đã hỗ trợ đắc lực cho Hồ trong việc:
- Lèo lái đổi danh xưng quân đội hợp nhất của các đảng phái mang tên Quân đội Quốc gia với tôn chỉ “Trung với nước, hiếu với dân” thành “quân đội nhân dân” hay “bộ đội cụ Hồ” với tôn chỉ: “Trung với đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (tức là kẻ thù củaĐảng cộng).
- Khi đổi danh xưng và tôn chỉ, lực lượng vũ trang trong tay tổng tư lệnh Võ nguyên Giáp trở thành công cụ chuyên chính của Hồ – mà cũng là của Nga-xô và Tàu cộng. Vì thế cái gọi là “quân đội nhân dân” hay “bộ đội cụ Hồ” mới đủ tàn bạo hơn cả lính Tàu xưa kia, lính thực dân Pháp, lính phát-xít Nhật để bắn giết nhân dân Việt Nam như vụ Ba-làng (1957); giết đồng bào người Mèo ở Hà-giang (1960) (hơn 2 vạn vì theo đạo Tin lành); giết nhân dân Huế (1968); pháo kích vào các trường học, nhà thờ, đền chùa, cơ sở kinh tế, bệnh viện v.v… trong suốt cuộc chiến xâm lược VNCH (vì quyền lợi và chiến lược bá quyền đỏ Nga-xô – Tàu cộng). Nói tàn bạo hơn vì Tàu, Nhật, Pháp không phải người Việt (nghĩa là đồng bào).
Gần đây nhất, cái “quân đội nhân dân” đó của Võ nguyên Giáp đã tàn bạo tàn sát nhân dân Tây-nguyên theo đạo Tin lành.

Vì thế, trước hết nhân dân Việt Nam, ở trong và ngoài nước, cần thiết tìm hiểu lại ngọn ngành lịch sử cận đại để nhận diện cho đúng ai là kẻ thắng của cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” và “Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam”?

Những suy tư và cảm xúc thực sự mà Vũ thư Hiên trả lời phỏng vấn phóng viên Võ triều Sơn của thông VNN không thể và không bao giờ có thể chứa đựng một chút nào đó suy tư và cảm xúc thực của “đồng bào miền Bắc Xã hội chủ nghĩa lúc ấy” như ông Võ triều Sơn có thể đã ngộ nhận.
Suy tư và cảm xúc thực sự của Vũ thư Hiên hoàn toàn ăn khớp với Hồ chí Minh và các đệ tử, cũng như trùng hợp với các nhà “dân chủ cuội” Bùi Tín, Trần Khuê, Trần dũng Tiến, Nguyễn thanh Giang v.v…

Câu hỏi đặt ra: Vậy ai là kẻ chiến thắng?

Xin thưa, đó là:

1) Đế quốc đỏ Nga-xô:
Năm 1930, khi ra lệnh Hồ chí Minh lập ra cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương” thì cái tổ chức Việt gian đó còn trốn chui trốn lủi. Bản thân Hồ, cao nhất là ăn, ngủ tại Pắc-bó (Cao-bằng), lén lút đặt tên con suối trước hang là Lê-nin, và tạc tượng Kác-marx, ôm cô bé đưa cơm người Tày.
Nhờ thắng ở trận Điện-biên nên đế quốc đỏ Nga-xô thực tế đã làm chủ một phần đất và dân quan trọng của Đông-dương: toàn bộ miền Bắc Việt Nam từ vỹ tuyến 17 trở ra.
Núp dưới danh xưng “đại sứ đặc mệnh toàn quyền”, toàn quyền Nga-xô là Lavritsep chiếm toàn bộ trường nữ trung học Félix Faure với các khu phố đẹp nhất của Hà-nội, đồng thời cho xây khu Kim-liên (Hà-nội) để gia đình các quan thực dân đỏ cư ngụ. Ở các tỉnh, huyện cho xây nhà phục vụ đặc biệt đặt tên là Nhà giao tế.
Công viên đẹp nhất Hà-nội được đổi tên thành công viên Lê-nin và tượng Lê-nin được thay vào chỗ tượng toàn quyền thực dân Pháp ở Đông-dương là Paulbert (bị bác sĩ Trần văn Lai, thị trưởng Hà-nội thời chính phủ Trần Trọng Kim cho giật đổ, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam).

Tượng Lê-nin to đẹp hơn, thế vào chỗ tượng Paulbert là biểu tượng trên miền Bắc Việt Nam, chủ nghĩa thực dân đỏ đã thay thế thực dân Pháp.
Miền Bắc Việt Nam trở thành điểm chiến lược cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa giáo dục để tiếp tục chiến lược bành trướng bá quyền của Nga-xô và để ngăn chặn đối thủ bá quyền là Tàu cộng.




2) Tàu cộng hay Anh Hai trong lãnh địa thực dân đỏ:
Qua cái gọi là Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, hình ảnh “Trung cộng của Mao” được công khai hóa ở phương Tây, với Chu ân Lai, trong cái áo dài của Lỗ Tấn.
Xương máu của nhân dân Triều Tiên và của nhân dân Việt Nam làm cho hình ảnh “Tàu Mao” có một vị trí đáng ngại còn hơn sự tô vẽ của ký giả Pháp – Claude Roy – trong cuốn “Clef pour la Chine” (Chìa khóa về Trung quốc).
Tướng La quý Ba của Tàu cộng, từng có mặt ở Việt Nam, từ cái gọi là “Chiến dịch biên giới 1950” để trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của Mao cho tên Hồ Việt gian, nay trở thành phó toàn quyền thực dân đỏ ở Việt Nam, núp dưới danh xưng “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” của Tàu cộng. Hắn chiếm dinh Thủ hiến Bắc Việt Nam xưa kia cùng một loạt vi-la sang trọng trên đường Quan-Thánh (Hà-nội).
Tập đoàn Hồ chí Minh, khi vào Hà-nội, vội vã dâng cho Nga-xô trường nữ trung học Félix Faure. Chúng có thể xóa sổ các trường trung học Notre Dame du Rosaire, làm văn phòng Bộ tài chính; trường trung học Albert Sarraut thành văn phòng trung ương của đảng Việt gian “Lao động Việt Nam”; các trường nữ trung học Sainte Marie và Saint Paul cũng bị xóa sổ. Trường Bưởi – trường trung học nổi tiếng nhất Đông-dương – bị lấy làm doanh trại của lính lê-dương cộng sản.

Thế nhưng trường trung học Trung-hoa vẫn được giữ nguyên xi!!!
 vị trí “Phó toàn quyền”, Tàu cộng đã biến Việt Nam thành “bãi thải công nghiệp và ve chai”. Tàu cộng nhân viện trợ mới từ Nga-xô, còn các đồ phế thải, máy móc cũ cho chuyển qua Việt Nam. Những nhà máy sắt, thép Thái-nguyên; nhà máy phân đạm Bắc-giang; khu công nghiệp Việt-trì v.v… là những ví dụ cụ thể.
Báo Nhân dân, được coi là cơ quan của cái gọi là “đảng lao động Việt nam”, từ trang nhất cho đến các trang trong phải được phân chia ngang bằng cho việc đăng tin từ “Phủ toàn quyền” (tức đại sứ Nga-xô) và “Phủ phó toàn quyền” (tức đại sứ Tàu cộng).

 miền Bắc Việt Nam lúc ấy, ảnh Mao cùng bộ hạ như Lưu thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành đức Hoài, Trần Nghị, Đặng tiểu Bình v.v… nằm không chỉ ở nhà dân thường mà bắt buộc phải có ở các trụ sở hành chính từ xã lên đến trung ương.
Sau này, cũng khởi đầu từ cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” mà giáo sư tiến sỹ Kít (Kissinger) phải le te sang Tàu để bố trí cuộc gặp mặt của Nixon với Mao ở Thượng-hải!!! Vì đã hoàn thành việc chia rẽ Nga-xô và Tàu cộng.

3) Những kẻ cuối cùng thắng trong cái gọi “chiến dịch Điện-biên-phủ” là:
-a) Con nòng nọc Gaulois đã rụng cái đuôi thực dân để thành con cóc dân chủ, nhảy ra khỏi đầm lầy tội lỗi xâm chiếm thuộc địa.
-b) Hồ chí Minh được chính thức ngự tọa trong Biệt điện của Quốc trưởng Bảo Đại ở Hà-nội (xưa là phủ toàn quyền Đông-dương). Tên tội phạm bán nước cho thực dân đỏ; bán cụ Phan Bội Châu, bán cuộc khởi nghĩa của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Thái Học và v.v… tự thưởng cho bản thân một người con gái, trẻ hơn cháu nội của hắn, để thỏa mãn sự trụy lạc. Cô gái đó là Nông thị Xuân.
Lầu đài, gái trẻ, xe hơi bọc thép, máy bay trực thăng, máy bay du lịch vẫn chưa đủ. Hồ còn cho làm nhà sàn; dựng lễ đài, xây ao cá v.v… cùng lúc lo cho hậu sự, nghĩa là lăng tẩm, tượng đài của hắn!
Từ đó, những nền tảng nói láo trong sách của Trần dân Tiên (bút danh của Hồ), được bộ máy văn nô, trí nô cung đình của Hồ tô màu, phóng đại, kết hợp với việc đánh bóng tay sai đắc lực để làm mồi dụ khị các tay sai khác, Nga-xô và Tàu cộng đã tô vẽ lại tên hề chính trị Hồ chí Minh thành một thứ “anh hùng mẫu” của thời đại.
Thế là mấy anh chính khách theo đường lối nhuôm nhoam – không ra đen, không ra trắng – như kiểu Nê-ru, Nasser, Sukarno (Nam dương), Boumédienne (Algérie), Lumumba (Congo), Xi-ha-núc… cũng ra công tâng bốc lẫn nhau.
Trong cái thế giới hỗn mang đó, thiện ác lẫn lộn, thực giả khó phân. Đúng là kiếp nạn cho người hiền lương!
Núp dưới những hắc quang ma quỷ đó, Hồ và tay chân như lũ Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Phạm Hùng, Võ nguyên Giáp, Nguyễn chí Thanh, Lê đức Thọ, Trần quốc Hoàn, Tố Hữu v.v… chỉ đạo bần cùng và nô lệ hóa cùng tẩy não toàn dân (phía Bắc VN).



Đồng ruộng, núi non, sông biển và toàn dân đều là tài sản của Hồ – cũng có nghĩa của mẫu quốc đỏ Nga-xô – Tàu cộng.

Nhờ làm chủ tuyệt đối cả thân xác (bần cùng hóa) và tâm hồn (tẩy não); Hồ và chân tay tiếp tục lộ trình mà mẫu quốc đỏ Nga-xô đã giao trách nhiệm cho hắn từ 1930 – việc ra đời của cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương”. Đó là: Tiến hành nhuộm đỏ Đông-dương mà trước hết là VNCH, núp dưới chiêu bài “giải phóng” bằng nô lệ Bắc Việt Nam cùng vũ khí và sự ủng hộ tuyệt đối về chính trị, ngoại giao, tuyên truyền của Nga-xô – Tàu cộng cùng chư hầu và các đảng tay sai trên phạm vi toàn thế giới.



Chính là “Điện-biên-phủ” đã thành điểm tựa cho bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Nga-xô – Tàu cộng, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, các đảng phái tay sai của Nga-xô – Tàu cộng; các nghệ sỹ, nhà văn, nhà báo, học giả, chính khách… như những mạt cưa sắt, trong từ trường của sự xuyên tạc, đã định hướng giống nhau. Họ bị bội thực thông tin giả để vô thức góp phần tạo ra một loạt thông tin giả khác; phong phú hóa cho thông tin giả của “đế quốc đỏ”, mơ hồ hóa đầu óc, nhận thức của nhiều người về con người Việt gian Hồ chí Minh (từ 1925); về sự thay đổi màu sắc của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam:
- Chủ nghĩa thực dân Pháp (tức xanh) chấm dứt khi chúng phải ký với Cựu hoàng Bảo Đại, trả lại Việt Nam cho chính phủ quốc gia, mà tượng trưng là Quốc kỳ nền Vàng Ba sọc đỏ, vào năm 1948;
- Chủ nghĩa thực dân đỏ (Nga-xô – Tàu cộng) bước vào lãnh thổ Việt Nam từ cuối 1950 – tức chiến dịch biên giới. Và, cuối 1951, khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, được Nga-xô thành lập từ tháng 2-1930, mang tên “đảng cộng sản Đông-dương”; xin tự giải tán năm 1946 để giấu bộ mặt Việt gian đỏ, nhằm hội nhập dễ dàng vào các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang, chờ dịp tiếm quyền lãnh đạo.

Nhiệm vụ mà Nga-xô trao cho “đảng cộng sản Đông-dương” vào năm 1930 là nhuộm đỏ Đông-dương tức cướp chính quyền từ tay đảng phái, tổ chức không là cộng sản. Nhân sự được chọn lọc, đào tạo từ Nga-xô trở về đều có mục tiêu duy nhất là cướp chính quyền.
Vì thế, khi Tàu cộng làm chủ lục địa, cuối 1949, thì Hồ vội khăn gói quả mướp, đầu năm 1950 sang Tàu cộng xin hỗ trợ việc cướp chính quyền trong tay các nhân sỹ, trí thức không đảng phái, các tổ chức không cộng sản trong chính phủ Liên hiệp kháng Pháp.
Được sự chuẩn y của Nga-xô, Tàu cộng đã giúp Hồ cướp quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang. Biến thành công cụ chuyên chính của thực dân đỏ. Nhờ đó Hồ đã vô hiệu hóa quốc hội đa đảng khóa 1, vô hiệu hóa chính phủ Liên hiệp kháng Pháp – qua cái gọi là “đấu tố chính trị”. Để lại một số nhân sỹ, trí thức đã bị tẩy não, cam phận bù nhìn để Hồ che giấu nhân dân trong nước, nhân dân thế giới về cuộc đảo chánh bất hợp pháp. Tuy nắm được quyền cai trị, nhưng Hồ vẫn tiếp tục sử dụng ngọn cờ chống thực dân Pháp để thực dân đỏ hóa Việt Nam, Lào và Căm-bốt.
Bộ máy tuyên truyền của Nga-xô – Tàu cộng, của các chư hầu và bộ máy xuyên tạc của Hồ mở hết cộng suất làm nhiễu thông tin, khiến rất rất nhiều người cả trong và ngoài Việt Nam không nhìn ra rằng, từ 1948, lực lượng người Việt Nam yêu nước chống xâm lược đỏ đã tụ họp quanh Quốc trưởng Bảo Đại.

Kể từ đó cuộc chiến ở Việt Nam hoàn toàn mang nội dung mới:
- Chính phủ quốc gia được hình thành để chống sự xâm lược đỏ Nga-xô – Tàu cộng (do tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh được lệnh tiến hành).
- Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh núp dưới ngọn cờ kháng Pháp của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, che dấu hành động dùng xương máu người Việt chết cho sự bành trướng của Nga-xô – Tàu cộng trên bán đảo Đông-dương.
Bộ máy tuyên truyền của Chính phủ quốc gia Việt Nam quá yếu, đến mức như vô hiệu, cộng với nền tự do ngôn luận quá tự do của thế giới phương Tây, đã khiến những người quốc gia bằng cảm tính cố thoát ra khỏi tập đoàn cộng sản vô thần và tàn bạo; tập hợp nhau lại chiến đấu chống lại lũ vô nhân bản. Chưa ai phân tích tài liệu so sánh dữ kiện để thấy rằng cái gọi là “chủ nghĩa cộng sản” mà chúng công khai trương ra chỉ là cái áo khoác ngoài, còn nội dung tổ chức, nhiệm vụ đã, đang và sẽ thực thi sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân toàn chế Nga-xô – Tàu cộng!!!

Tóm lại là thực dân đỏ xâm lược Việt Nam bằng người Việt Nam bị xích hóa.
Cho nên việc chống tập đoàn cộng sản Việt Nam không thể coi là chống chủ nghĩa cộng sản mà laø chống đạo quân Lê dương của đế quốc đỏ Nga-xô – Tàu cộng.

Cuộc chiến của Chính phủ Quốc gia Việt Nam từ cuối 1948 và các chính phủ kế tiếp của VNCH cho đến 30-4-1975 là cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống xâm lược đỏ.
Chừng nào còn ngộ nhận, mà nói theo giọng lưỡi tuyên truyền của cộng sản, rằng đó là “chiến tranh huynh đệ ”hay “chiến tranh quốc cộng” hay “chiến tranh ủy nhiệm” thì sẽ có nhiều lấn cấn không giải thích được. Thí dụ:
- Tại sao chính phủ Ngô đình Diệm không muốn Mỹ can thiệp quá nhiều vào Việt Nam?
- Tại sao cụ Diệm từ chối đề nghị, ngày 10-8-1955 mở Hội nghị Hiệp thương của Phạm văn Đồng – thủ tướng ngụy quyền Hà-nội khi ấy?
- Tại sao chính phủ Ngô đình Diệm phản đối Tàu cộng lấn biển, lấn đảo của Việt Nam mà ngụy quyền Hồ chí Minh lại ủng hộ việc làm của Tàu cộng (Công hàm Đồng gửi Chu ân Lai);
- Tại sao năm 1974, chính phủ Nguyên văn Thiệu bảo vệ hải đảo của Việt Nam bị Tàu cộng chiếm (sự hy sinh của trung tá Ngụy Văn Thà và đồng đội), trong lúc đó ngụy quân Hà-nội vẫn tiếp tục đánh phá VNCH mà không hề, dù là phản đối miệng, hành vi xâm lược của Tàu cộng?
- Tại sao các ngụy quyền kế tiếp của Hà-nội, từ Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh vẫn tiếp tục cắt đất, cắt biển của Việt Nam dâng cho Tàu cộng?
- Tính cách quân lính thực dân Pháp từ 1948 trở đi thay đổi như thế nào? Tại sao?
- Tại sao Mỹ cố tình phải đưa quân vào Việt Nam?
- Phải chăng nước nào có quân đội Mỹ đóng đều bị mất độc lập quốc gia và dân tộc; và các chính phủ ở đó là tay sai bán nước cho đế quốc Mỹ?

Những câu hỏi trên, chỉ xin phép được gợi ý, để quý bạn đọc suy nghĩ sau khi đọc những gì mà tụi phản tỉnh cuội và đấu tranh cuội cho dân chủ ở Việt Nam viết và nói.
Cái sự việc rành rành mà ngày nay ai cũng có thể thấy được, đó là, sau ngày tập đoàn Việt gian cộng sản thực thi lộ trình, mà mẫu quốc đỏ của chúng đã vạch ra từ 1930, nhuộm đỏ Đông-dương, đưa đến kết quả ngày quốc hận cho toàn thể nhân dân Việt Nam: 30-4-1975.





Thử xét xem kết quả như thế nào:

1) Tập đoàn Việt gian cộng sản, do Lê Duẩn (tổng bí thư) cầm đầu, cùng hầu hết ủy viên chính trị bộ khom lưng sang mẫu quốc đỏ Nga-xô để ký cái gọi là “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện”. Đặc biệt trong đó có nhấn mạnh rằng: “hai bên hợp tác, giúp nhau bảo vệ thành quả cách mạng”. Như thế có nghĩa là: Tập đoàn Lê Duẩn phải tiếp tục đưa lính thuộc địa đỏ Việt Nam đi xâm lược các nước láng giềng, tức Căm-bốt, Thái-lan v.v… Nếu Tàu cộng can thiệp sẽ có hỗ trợ của mẫu quốc Nga-xô.
Dân nô lệ của cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều bị bắt vào lính để mở rộng thuộc địa cho Nga-xô sang Căm-bốt. Tất nhiên như vậy là chống Tàu cộng, đúng như nhiệm vụ của Nga-xô trao cho Hồ và cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương” từ đầu năm 1930 – ngăn chặn bá quyền Tàu cộng.
Riêng phần nhân dân VNCH, bị ách thực dân đỏ đô hộ bỏ tù, lưu đày, cướp bóc… ra sao thì cả thế giới đều biết, khỏi cần nêu lại ở đây (tuy rằng nhiều kẻ mau quên như loại Nguyễn ngọc Ngạn, cha con Nguyễn cao Kỳ v.v…).

Và thế là cuộc chiến với Căm-bốt và Tàu cộng (1979) đã xảy ra. Hơn 300 ngàn thanh niên, con em người dân của VNCH đã bị chết, thương tật, mất tích. Tài sản mà, Mỹ rút khỏi VNCH để lại, cộng với tài sản của chính quyền và nhân dân VNCH bị cướp đoạt, nướng hết vào chiến tranh phục vụ cho chiến lược bành trướng của thực dân đỏ Nga-xô, cũng không đủ, mà còn phải chịu gánh nặng nợ nần mua dụng cụ chiến tranh từ mẫu quốc Nga-xô.
Khi chiến tranh kết thúc thì bên cạnh món nợ khổng lồ với cả hai mẫu quốc đỏ Nga-xô – Tàu cộng, trên phần đất VNCH, ngụy quyền Hà-nội phải dâng cảng Cam-ranh và các mỏ dầu lửa cùng nhiều tài nguyên – kể cả lao động xuất khẩu sang Nga-xô làm lao dịch trừ nợ.

2) Còn phía mẫu quốc Tàu cộng, các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam bị san bằng, tài sản mọi loại bị cướp về Tàu hoặc bị phá hủy, không được bồi thường, Đã thế, ngụy quyền Hà-nội còn chịu nhận món nợ chiến phí vì quyền lợi Nga-xô – Tàu cộng mà tiêu vào việc xâm lược VNCH. Tàu cộng chiếm sâu vào lãnh thổ Việt Nam ở các điểm cao chiến lược và… coi như huề (đến nay vẫn chưa tính được diện tích đất đai bị mất là bao nhiêu).
Ngụy quyền Hà-nội vẫn tiếp tục dâng đất cho Tàu cộng từ Hồ cho đến đủ mặt các đời “tổng bí thư” của đảng Việt gian cộng sản, kể cả các địa danh đã đi vào lịch sử như Suối Phi Khanh, Thác Bản Giốc v.v…
Sự nhất quán về đường lối dâng đất + biển cho Tàu cộng là bằng chứng không thể chối cãi bản chất Việt gian của “đảng cộng sản Việt Nam”(Nga-xô không liền biên giới với Việt Nam nên lũ Việt gian ngụy quyền Hà-nội dâng nguyên liệu và người (lao động)!!!)

Vietnam Memorial Wall

3) Mỹ rút ra khỏi Việt Nam, để lại gần 60 ngàn con em tử trận; nhiều công trình đô thị, giao thông hiện đại, nhiều kiến thức sản xuất, lưu thông phân phối, tài chính cùng công nhân có tay nghề cao và đặc biệt “một xã hội công dân” đang ra hoa với quyền lập nghiệp đoàn, tự do ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng… và quyền sở hữu tư nhân. Mỹ đã không chỉ trút máu của công dân Mỹ mà còn trút vào đó hàng 200 tỷ USD!
Nghĩa là Mỹ rút ra tay không!
Chưa nói đến sau 30-4-1975, bao nhiêu người Việt Nam từ cả Nam cả Bắc đã tìm lại sự an bình và tương lai trên đất Mỹ.

Chỉ tóm tắt thế thôi, mong quý bạn đọc suy nghĩ kỹ xem ai là kẻ thủ lợi cụ thể trong chiến tranh ở Việt Nam trong suốt 2 thời kỳ?

Xin lưu ý cho rằng:
* Ngay từ 1930, Nga-xô đã lập tổ chức (tức đảng cộng sản Đông-dương), đào tạo nhân sự và có chủ trương xâm lược Đông-dương (núp dưới mỹ tự “cách mạng vô sản”).
* Tàu thì từ ngàn năm nay lúc nào cũng lăm le xâm lược Việt Nam. Tàu cộng chính thức vào Việt Nam từ cuối 1950.
* Còn Mỹ vào Việt Nam (từ 1965 mới ồ ạt vào) vì lý doViệt gian cộng sản ra nghị quyết 15 (1-1959) thực thi vũ trang xâm lược VNCH. Để ngăn làn sóng thực dân đỏ ra châu Á nên Mỹ phải vào Việt Nam.
Cho đến nay, sau khi đế quốc đỏ Nga-xô sụp đổ, các thuộc địa Đông Âu của Nga-xô được độc lập, tự do. Không nhờ sức mạnh của Mỹ; nhờ đại bộ phận dân chúng thầm lặng ở Việt Nam; nhờ sức mạnh chính nghĩa chống xâm lược của cộng đồng người Việt tỵ nạn “cộng sản” – nhất là ở Mỹ – thì hoặc Tàu cộng đã nuốt chửng Việt Nam hoặc tập đoàn Việt gian cộng sản đã dâng Việt Nam thành thuộc địa đỏ cho Tàu cộng!
Đó là một sự thực, mà chẳng cần thông minh và công phu nghiên cứu tài liệu cũng có thể nhìn ra được.



Sau 30-4-1975, nhân dân cả Bắc Nam được gì?
- Tiếp tục bị bắt làm lính chết cho đế quốc đỏ Nga-xô để nhận về những tờ giấy lộn gọi là “bằng liệt sỹ”, “bằng gia đình vẻ vang” và một số nào đó thì được vài cái huân chương, huy chương mạ đồng hay bạc, vàng, mang bán cũng chẳng có đứa điên nào mua.
- Tiếp tục đóng mọi loại sưu thuế cho ngụy quyền Hà-nội chi cho chiến tranh của đế quốc đỏ, trả nợ mẫu quốc; xây dựng lâu đài cho những tên ngụy quyền còn sống; xây dựng đền miếu cho những tên bị chết (như Nguyễn chí Thanh, Nguyễn thị Định)…
- Tiếp tục đưa con em đi làm lao nô ở cả mẫu quốc lẫn bán lao động, bán dâm khắp các nước từ Đài-loan đến Tàu lục địa; từ Đại-hàn đến các nước Trung-đông và sang ngay cả láng giềng: Thái-lan, Căm-bốt. Kẻ tổ chức mua bán đó chính là ngụy quyền Hà-nội! Chẳng khác gì trước đó ngụy quyền Hà-nội cũng bán tàu, bến bãi và thu vàng theo đầu người của những người tỵ nạn cộng sản?
- Tiếp tục bị vắt thêm những khoản thuế mới: tiền cúng công đức ở các đền chùa, nhà thờ, các điểm du lịch… để ngụy quyền Hà-nội nuôi loại thầy tu, sư sãi quốc doanh bôi lấm tâm hồn người dân.
Cái mất mát lớn nhất của toàn dân Việt Nam là: năm 1946 trong hoàn cảnh lịch sử rối ren như thế, nhưng toàn dân Việt Nam vẫn có quyền tham gia tự do vào các đoàn thể đảng phái chính trị; được tự do bàu ra Quốc hội khóa 1, đa đảng. Kể từ cái kết quả nảy sinh từ cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” và “Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam” thì miền Bắc Việt Nam, từ 1954 người dân bị tước quyền tự do bầu cử và ứng cử, thay thế vào đó là trò hề “đảng cử, dân phải bàu”. Đến sau 30-4-1975 thì cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều chung cảnh ngộ!!!

Nhìn thẳng vào diễn biến cụ thể ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua thì phải thấy những sự thật là:
1) Sau đảo chánh của Nhật, sự ra đời của chính phủ Trần trọng Kim, đã đem đến cho người dân Việt Nam nhiều quyền tự do. Đặc biệt là tự do biểu tình; tự do hoạt động chính trị của nhiều xu hướng; tự do ngôn luận qua nhiều báo chí tư nhân, không chịu sự kiểm soát của chính phủ.
2) Vì chính sách ngu dân của thực dân Pháp nên phần lớn nhân dân Việt Nam chỉ có lòng yêu nước chứ không phân biệt nổi các xu hướng chính trị. Cho nên bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào nêu khẩu hiệu chống thực dân Pháp, giành lại độc lập tự do cho Việt Nam là người ta theo.
Tuy nhiên, thuở đó dù bị hạn chế về truyền thông, nhưng nỗi khiếp đảm trước chủ trương diệt trí, phú, địa, hào của cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương”, ở các tỉnh Nghệ-an, Hà-tĩnh vào năm 1930, vẫn là nỗi ám ảnh lớn lao trong đầu óc người dân Việt Nam, nhất là nông dân.
Truyền thống văn hóa Việt Nam đề cao tính “hiên lương, quân tử, trung thực, nhân nghĩa, tín lễ” nên dù là trí thức khoa bảng cho đến người dân thường đều rất chất phác – nhất là nông dân, và ngay cả trong thương trường. Lại thêm truyền thống trọng các bậc khoa bảng, con dòng cháu giống, cho nên người dân Việt Nam ở thế hệ đầu thế kỷ 20 chưa hề có kinh nghiệm về tụi lưu manh chính trị.
3) Vì thế Hồ phải làm cái việc giải tán cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương” để:
+ Tận dụng chiêu bài của tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh). Đó là tổ chức của những người Việt Nam, có thể có xu hướng chính trị khác nhau, nhưng hoạt động tại đất Tàu, cần có tiếng nói chính thống nên theo đề nghị của cụ Hồ học Lãm đã ra đời từ 1936.

Sau khi được Trương phát Khuê – tướng Tàu Tưởng – thả ra, Hồ xin gia nhập Việt Minh của cụ Hồ học Lãm, Nguyễn hải Thần (Việt Cách), Vũ hồng Khanh (VNQDĐ) và xin được về biên giới hoạt động.
Núp dưới cái bóng của những người cách mạng “Dân tộc Quốc gia” Việt Nam, Hồ thấy có hiệu quả rõ ràng so với bộ mặt “cộng sản” máu me, nên từ 1941, Hồ họp với vài tên cộng sản để lái tổ chức của Hồ hoạt động trong lốt Việt Minh. Và, sau này bọn chúng bịa đặt ra cái gọi là bọn Hồ thành lập ra mặt trận Việt Minh (1941).
Vì thế, sợ rằng dần dà mọi người có thể thấy bộ mặt ăn cắp đó của Hồ, nên cuối năm 1946, Hồ cho thành lập“mặt trận Liên việt”, mở đường cho mặt trận Việt Minh về vườn, nghĩa là lưu manh loại bỏ các đảng Việt Cách và Việt Quốc!
+ Vì biết chắc chắn nhân dân Việt Nam, nhất là nông dân, sẽ không chấp nhận cái mô hình “Xô-viết Nghệ-Tĩnh” – một mô hình chính trị Việt gian, mở đường cho sự đô hộ toàn trị của thực dân đỏ Nga-xô. Cho nên Hồ mới phải giải tán “đảng cộng sản Đông-dương”, rút vào hoạt động “bí mật”, còn công khai chỉ là một “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx”!
Tại sao chính quyền đã về tay nhân dân – qua chính phủ Liên hiệp – với các đảng phái và cả Cựu hoàng Bảo Đại cũng tham gia, với tư cách Cố vấn tối cao, mà lại phải rút vào bí mật như thời thực dân Pháp đô hộ?

Bởi vì Hồ biết rằng cái “đảng cộng sản Đông-dương” đối lập với quyền lợi của quốc gia và dân tộc Việt Nam!!!
Cái “đảng cộng sản Đông-dương” chỉ ra công khai dưới tên “đảng Lao động Việt Nam” – cuối 1951 – sau khi đã hoàn toàn nắm được lực lượng vũ trang chống thực dân Pháp, tẩy não để biến thành công cụ chuyên chính, đảo chánh chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Từ đó Hồ sử dụng “đảng Lao động Việt Nam” như công cụ thực thi chính sách Việt gian bán nước cho thực dân đỏ Nga-xô.
Qua cái gọi là “cải cách ruộng đất” và “chỉnh đốn tổ chức”, rồi lại sửa sai của hai “phong trào cách mạng” đó, thực chất nội dung là:
* Loại bỏ trọn vẹn những người có tinh thần quốc gia, dân tộc; có tín ngưỡng; có uy tín trong dân địa phương, đặc biệt là làm lại mới cả tổ chức và nhân sự trong cái gọi là “đảng Lao động Việt Nam”. Nghĩa là lưu manh hóa và Việt gian hóa toàn đảng Lao động Việt Nam!!!
* Phá tan truyền thống văn hóa lâu đời của nông dân; phân hóa cao độ đến mức hận thù trong nhân dân, khiến vợ chồng, cha con, anh chị em, hàng xóm láng giềng, chẳng ai tin ai! Phổ biến nếp sống thực dụng tàn bạo: chỉ một miếng ăn là cha con, vợ chồng, bạn bè, họ hàng có thể vu cáo hãm hại lẫn nhau.
Kể từ đó thì:
Một mất mát lớn nữa của toàn dân Việt Nam là: truyền thống sống đạo nghĩa, nhân hậu, trung thực v.v… bị xóa bỏ, thay vào đó là lối sống ích kỷ, thực dụng tàn bạo!!!
*****

Vũ thư Hiên: “Chưa hết bệnh nói phét " 2 Het ( Việt Thường)


Vũ thư Hiên:
“Chưa hết bệnh nói phét!”
(phần hai và hết)
Việt Thường
Vậy suy tư và cảm xúc thực sự của nhân dân miền Bắc là:
- Cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu người từ Bắc vào Nam… để tránh cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” càng xa càng tốt. Ấy là còn nhiều triệu bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh ngăn cản cũng như khó khăn về vận chuyển.
- Số lớn ở lại miền Bắc không phải vì “Điện-biên hay Genève”, mà vì bị đột ngột, không biết giải quyết ra sao về tài sản, mồ mả; nghĩ rằng sau 2 năm có quốc tế can thiệp, thôi thì ráng chịu đựng cái chế độ “nón cối” này vậy.
- Hậu quả của “chiến thắng Điện-biên” và “Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam” thì ngay cả những người thực sự đóng góp cho cái “chiến thắng” ấy như “anh hùng Điện-biên”, trung tá Nguyễn quốc Trị; tổ trưởng xích hầu giết chết trung úy Bernard de Lattre là chiến sỹ thi đua toàn quân, Giáp văn Khương; nhà văn Trần Dần với tác phẩm “Người người lớp lớp”; tướng Đặng kim Giang – hậu cần cho Điện-biên; thứ trưởng quốc phòng Tạ quang Bửu – thành viên trong đoàn đi Genève 1954 và v.v… nhiều lắm lắm, đều trước sau ngã ngựa, tù đày, trở thành… “kẻ thù” của “nhân dân”?!
- Ngoại trừ Hồ và những tên Việt gian thực thụ như Duẩn, Chinh, Đồng, Hùng, Giáp, Thanh, Thọ, Hoàn, Tố Hữu v.v… cho đến nay là lũ bán đất, bán biển cho Tàu cộng như Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh, Nguyễn văn An, Võ văn Kiệt, Phan văn Khải, Nguyễn mạnh Cầm, Lê công Phụng, Nguyễn di Niên, Vũ Khoan v.v… là thực sự thắng ở Điên-biên-phủ.
Đặc biệt một kẻ nhận vơ rất rất cực đoan, đó là quân sư hụt của “tổng bí thư ngã ngựa giữa dòng: Lê khả Phiêu” – kẻ đã bạo phổi sáng tác ra “chủ nghĩa Hồ chí Minh”, đã nguyền rủa việc “chúc văn giỗ tổ Hùng Vương” không đề cao “chiến thắng Điện-biên-phủ”; không đề cao “chiến thắng 30-4-1975, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách Mỹ-Ngụy”!!! Kẻ đã hạ bút viết những dòng tư tưởng sau (xin trích vài thí dụ):
Thí dụ 1“Cho nên khi kết tội những người bị yếu thế như Hoàng văn Hoan, Vũ đình Huỳnh, Hoàng minh Chính, Đặng kim Giang, Lê Liêm… và gần đây nhất là tướng Trần Độ, chúng ta phải hết sức thận trọng không để các lực lượng chống cộng quốc tế cũng như các lực lượng tiêu cực, thoái hóa trong Đảng lợi dụng xuyên tạc, gây nhiễu về tư tưởng và chống phá chúng ta.”

Thí dụ 2“Cần nhớ rằng, mỗi việc làm không đúng của chúng ta, những người đang đứng trên tiền đồn XHCN ở Đông-nam-á đều làm lợi cho kẻ thù, đều tác hại đến uy tín của CNXH, của Đảng cộng sản Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam. Chúng ta mở cửa giao lưu và làm bạn với tất cả các nước để tạo một bước phát triển mới cho Dân tộc và Cách mạng, nhưng không ai được phép quên rằng chúng ta đang ở trong “một vòng vây kiểu mới”, bên cạnh những lực lượng thương yêu, thiện chí, có cả những lực lượng thù địch với CNXH, thù địch với tất cả những gì tốt đẹp đang diễn ra trên đất nước chúng ta.”
Thí dụ 3“Riêng trường hợp tướng Trần Độ (tên thật là Tạ hữu Phách), chúng tôi thẳng thắn phê phán ông: “Bác nói những điều tâm huyết mong làm lợi cho Đảng, cho Nhân dân nhưng bác lại chọn lối nói và cách dùng từ như “Đảng trị” chẳng hạn mới nghe chẳng khác gì luận điệu bọn chống cộng.”
Thí dụ 4“Lại nhớ hồi “đổi mới”, mấy ông nhà văn và nhà lý luận đặt lại vấn đề “mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị”. Lại còn cho rằng văn nghệ không phát triển được vì phục vụ chính trị. Văn nghệ không phục vụ chính trị của một dân tộc hoặc một giai cấp thì phục vụ cái gì? Một vấn đề đã trở thành nguyên lý và đã thảo luận bao nhiêu năm rồi, thay đổi thế nào được? Đổi mới tư duy đâu có nghĩa là thay đổi những nguyên lý đúng đắn mà cả ta lẫn kẻ thù tư tưởng của ta đều phải tuân thủ nghiêm túc.”
Thí dụ 5“Chúng tôi kiến nghị tất cả các cuộc hội thảo quốc tế ở Việt Nam nhất là những hội thảo về văn hóa phải bày tượng nhà văn hóa Hồ chí Minh cho người ta chiêm ngưỡng mà bàn bạc cho đứng đắn.”
Thí dụ 6“Võ nguyên Giáp nếu dập theo binh pháp của Hoàng-phố hay Xanh-xia (Sincyr)(1) hoặc khuôn theo ý cố vấn này cố vấn khác thì chắc cũng không có một “Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.”(2)
Vài nét tự họa nói trên cho phép nhận diện về Trần Khuê, cán bộ nghiên cứu Viện Hán Nôm của ngụy quyền Hà-nội, được nhóm “phản tỉnh cuội” Vũ thư Hiên, Bùi Tín… đánh bóng thành nhân vật “đấu tranh cho dân chủ”; được vài anh nhà báo, trí thức… quáng gà còn thổi lên thành “giáo sư” rồi lại “viện trưởng” v.v… (Khổ quá, thiến heo như Đỗ Mười còn làm “bố” của những loại giáo sư, tiến sỹ, viện trưởng kiểu đó kia mà).
Điều trái khoáy là có kẻ còn, xóa bỏ quá khứ của mình, khom lưng theo đuôi Vũ thư Hiên, để xây dựng các tổ chức “chống tham nhũng” ở hải ngoại nhằm kiếm đô-la Mỹ và phổ biến “chủ nghĩa Hồ chí Minh” trong tác phẩm của Trần Khuê, ngay trong lòng của những người tỵ nạn cộng sản – tức tỵ nạn vì hậu quả tội ác Việt gian của Hồ!!!
Cho nên suy tư và cảm xúc của Vũ thư Hiên về “Điện-biên-phủ” và “Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam”, chỉ đại diện cho tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh – cả tụi thờ Nga-xô lẫn tụi thờ Tàu cộng; đại diện cho những tên “phản tỉnh cuội” được ngụy quyền Hà-nội cho ra hải ngoại điều hành tụi nằm vùng, tụi chủ hàng – tức thành phần trung hòa – tụi ngộ độc thông tin, tụi quáng gà chính trị theo chủ nghĩa cơ hội, nhằm lũng đoạn cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, lèo lái cộng đồng “đầu hàng” để thành cộng dân của cái gọi là CHXHCNVN, đóng thuế thu nhập cho chúng, qua kế hoạch hoạt động chính trị cho cộng đồng, mà Bùi Tín đã đề nghị lập 4 Quỹ tình thương (trong đó đề nghị mỗi tháng mỗi người đóng một ngày lương).

Để tự nguyện gia nhập vào một tổ chức do các “cuội” của ngụy quyền Hà-nội chỉ đạo, trong cái danh xưng dễ bị lừa như: “Văn phòng chống tham nhũng”, do nhà văn hồi ký, không làm chính trị Vũ thư Hiên cầm cương!
Bọn “phản tỉnh cuội” còn có nhiệm vụ lợi dụng tinh thần tự do của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, lợi dụng tính hiền lương của cộng đồng để tô vẽ những tên “dân chủ cuội” ở trong nước khiến cộng đồng lôi chúng ra khỏi ẩn số, được quốc tế biết đến. Thế là với “bộ mặt dân chủ” có cầu chứng quốc tế và cộng đồng tỵ nạn cộng sản, chúng ngoi lên địa vị lãnh tụ đối lập ở trong nước, nhằm len vào các nhân vật đối lập trẻ ở trong nước để lèo lái ho từ từ đi vào… nhà tù hoặc bị cuội hóa.
Một trong những cuội dân chủ nguy hiểm nhất hiện nay là: “tiến sỹ”, “viện sỹ” Nguyễn thanh Giang, một người mà cả vợ, cả chồng đều đi học nước ngoài trong khi người cùng lứa tuổi phải đóng tuồng “sinh Bắc tử Nam”; người mà hai con đều du học các nước “tư bản”, rồi lại làm việc ở các nước “tư bản”, trong khi bạn bè cùng lứa phải đi nông trường quân đội; đi lao động bán sức, bán dâm; người mà cả gia đình đi nước ngoài như đi chợ và tiếp khách nước ngoài nhiều nhất Hà-nội; người mà đi đâu cũng khoe: “anh Trần đức Lương rất biết tôi”; người “tiến sỹ”, “viện sỹ” có lẽ là đầu tiên trong không chỉ lịch sử Việt Nam mà cả thế giới đã than vãn: “mất bao nhiêu tiền mua sách, mất bao nhiêu là thì giờ đọc sách”!!! (Chắc trước đó chỉ ra công chạy đến cửa quan lớn đỏ như Trần đức Lương để nghe huấn dụ và… vẫy đuôi) – (Còn nhiều lắm mà toàn do Thanh Giang lẻo mồm tự nói ra mà thôi).

Đảng cuội Việt Nam
Một trong những truyền thống của nhân dân Việt Nam là trung thực, khiêm nhường. Tiếc rằng, từ khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh nắm quyền đô hộ, bản thân Hồ đã là một tên nói phét loại thượng thừa. Với chính sáchtrồng người của Hồ, một lũ Việt gian nòi, tiếp bước Hồ thực thi và phát triển việc nói phét thành “đảng sách”. Chúng nói phét cả những cái không đáng gì!!!

- Thí dụ về Hồ, với bút danh Trần dân Tiên, tự đề cao hơn cả nhà ảo thuật. Hồ kể rằng, thuở hàn vi ở Paris, trời lạnh quá, sáng đi làm, Hồ phải vứt cục gạch vào lò, chiều tối về lấy giấy báo gói cục gạch nung đó để ôm ngủ cho… khỏi lạnh cóng!!!
Quý bạn đọc thí nghiệm việc làm này của Hồ xem. Chắc chắn sẽ bị cháy thành… vịt quay ngay!
Cho nên ở Bắc Việt Nam trước đây, một bài thơ về Hồ (trong dòng thơ phản kháng, mang tên “Thơ ghế đá”) đã viết rằng:
“Họ Hồ ra đứng xem trăng
Thấy chú Cuội nằm dưới gốc cây đa
Họ Hồ mới gọi Cuội ta
Rủ thi nói phét xem là ai hơn
Nghe Hồ miệng nói ngọt trơn
Cuội vội quỳ xuống, xin tôn làm thày!!!
Sau phát súng lệnh mẫu mực đó của Hồ, là sự chỉ đạo phong trào nói phét trong toàn đảng toàn quân ở Bắc Việt Nam.

Xin đưa vài thí dụ về kết quả của phong trào nói phét XHCN:
1- Từ ban tuyên huấn trung ương do “vè sỹ” Tố Hữu chỉ đạo:
“Nghiêng đồng đổ nước ra sông
Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa
Biến sỏi đá làm ra lúa gạo!”



2- Tác phẩm “Bất khuất”, hồi ký của Nguyễn đức Thuận, được là một trong hai tác phẩm lấy làm “Tài liệu học tập cho toàn dân”. Hồi ký viết về giai đoạn Nguyễn đức Thuận là “phó bí thư xứ ủy Nam bộ”, bị bắt và bị bác sỹ Trần kim Tuyến – chính phủ Ngô đình Diệm – sai người tra tấn bằng chiếu ngọn đèn một vạn nến (10.000w) vào mặt hàng… giờ đồng hồ!(?) Ấy thế mà Nguyễn đức Thuận không bị cháy thành than! Nói khoác quá cỡ thợ mộc!
Cuộc đảo chánh lật đổ tổng thống Ngô đình Diệm khiến Nguyễn đức Thuận có cơ hội trốn khỏi tù. Ra Hà-nội hắn được cửa làm phó chủ tịch Tổng công đoàn (phó cho Hoàng quốc Việt); rồi vào trung ương khóa 4, làm chủ tịch Tổng công đoàn, thay chỗ của Hoàng quốc Việt. Từ đó vọt lên ủy viên ban bí thư trung ương đảng Việt gian cộng sản, phụ trách Trưởng ban dân vận trung ương… chắc là nhờ tài nói phét giống Hồ!
Phong trào viết “Hồi ký cách mạng” là một hình thức thi nói phét trong nội bộ tập đoàn Việt gian cộng sản vào những năm của nửa cuối thập niên 50. Cũng vì nói phét quá trớn nên hồi ký của tên nọ mâu thuẫn với tên kia. Đồng thời nó cũng cho người đọc – nếu tỉnh táo – thấy được sự bỉ ổi lưu manh của tụi chóp bu trong tập đoàn Việt gian cộng sản đối với ngay “đồng chí” gần gũi của chúng.





Thí dụ: Hồi ký của Văn tiến Dũng viết năm 1959, có kể lại câu chuyện Dũng vượt ngục muốn liên lạc với tổ chức nhưng bị coi là AB (tức anti-bolchévik), nên Dũng phải lang thang kiếm sống, cạo đầu đi tu. Sau một thời gian, được Hoàng quốc Việt, nhân danh thường vụ trung ương, tìm gặp và cho phục hồi.
Kể từ khi vượt ngục ra, Dũng không biết tin tức gì của vợ là Đặng thị Kỳ. Cho đến khi được phục hồi, Dũng mới được liên lạc báo cho Dũng đến gặp cấp trên ở một cánh đồng. Khi Dũng tới chỗ hẹn thì “cấp trên” chính là Trường Chinh. Dũng cảm động khóc lóc. Sau khi được Trường Chinh ủy lạo, thì Trường Chinh cho Dũng hay vợ Dũng – tức Đặng thị Kỳ – đang chờ Dũng trong cái quán tránh nắng. Trường Chinh cho Dũng biết, trung ương lấy Đặng thị Kỳ đi công tác đặc biệt, vì vậy cho phép hai vợ chồng được gần gũi nhau nửa ngày.
Sau khi gần gũi với Dũng xong, Đặng thị Kỳ theo Trường Chinh về, lúc đó mới biết bị Trường Chinh giao nhiệm vụ phải đóng vai vợ của Lý chính Thắng, để mang tài liệu từ Hà-nội vào Nam cho xứ ủy Nam-kỳ.
Đặng thị Kỳ đóng vai vợ Lý chính Thắng. Và Lý chính Thắng đóng vai một “ông Phán” được cử vào Nam làm việc. Nhờ “đóng kịch như thật” nên hai người mang tài liệu trót lọt vào Nam. Và, Đặng thị Kỳ… cá bàu, ra đến Bắc thì sanh đứa con đầu lòng.
Nước cờ của Trường Chinh, cho Dũng gần gũi vợ nửa buổi, trước khi cho vợ Dũng đóng vai vợ một “ông Phán” đẹp trai và trí thức – Lý chính Thắng – là nguyên cớ sau này Dũng nhanh chóng ngả sang phía Lê Duẩn khi nắm cái ghế tổng tham mưu trưởng ngụy quân cộng sản!

Các loại bút nô Việt gian cộng sản thường tự hào rằng ở miền Bắc, ra ngõ là gặp anh hùng. Đấy cũng là một kiểunói phét. Đúng ra phải nói rằng, ở miền Bắc Việt Nam, dưới sự đô hộ của thực dân đỏ Nga-xô – Tàu cộng, ở nhà; ra đường; đến cơ quan, trường học v.v… Bất cứ chỗ nào cũng gặp lũ nói phét!
Có lưu ý đến bản chất nói phét đó thì khi nghe nói chuyện hay đọc sách, báo của bút nô, trí nô cộng sản sẽ nhanh chóng thấy ngay sự nói phét muôn hình muôn vẻ của chúng.
Cho nên, mặc dù khoác áo “phản tỉnh” hay “đấu tranh cho dân chủ”, các bài trả lời phỏng vấn, sách… của bọn này đều toàn chuyện “nói phét… cứ như thật”!!!
Trong số nói phét đang sống ngoài Việt Nam, Vũ thư Hiên thuộc loại nói phét bẩm sinh cộng thêm sự vun đắp nhiều năm bằng đường lối “giáo dục của nhà trường XHCN”, bằng chính sách “trồng người” của “lãnh tụ nói phét”Hồ chí Minh, cho nên khá độc đáo!
Xin tạm trích một số đoạn trong hồi ký chính trị “Đêm giữa ban ngày” của Vũ thư Hiên dưới đây.



Trước hết xin lưu ý quý bạn đọc về Vũ thư Hiên như sau:
- Cha đẻ là ông Vũ đình Huỳnh, 1945 được làm thư ký cho Hồ chí Minh. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chính phủ Liên hiệp Kháng chiến chạy lên Việt-Bắc, ông Vũ đình Huỳnh được cử giữ chức vụ cao nhất là Vụ trưởng Vụ lễ tân thuộc bộ ngoại giao, thì lúc đó chỉ phục vụ cơm canh, củi thịt cho mỗi sứ quán Tàu cộng mà thôi.
- Sau Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, tập đoàn Hồ chí Minh tạm quản lý miền Bắc Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở ra và chúng đem nhau vào tiếp quản Hà-nội. Tất cả đều nhận phần nhà ở là những vi-la to đẹp. Ông Vũ đình Huỳnh vẫn chỉ là Vụ trưởng Vụ lễ tân thuộc bộ ngoại giao, cho nên tiêu chuẩn chỉ là một ngôi nhà khá khiêm tốn(nếu không muốn nói là tầm thường) ở đầu ngã tư Lý Thường Kiệt và Phan Chu Trinh (Hà-nội). Thời Pháp thuộc, nhà này cho một tên cai cứu hỏa của Pháp thực dân ở. Cỡ Vụ trưởng ở như vậy là sang rồi. Chắc chắn không phải do ông Vũ đình Huỳnh… khiêm tốn. Khi ấy cũng chỉ có sứ quán Tàu cộng, Nga-xô và ủy ban quốc tế giám sát đình chiến với Canada, Ấn-độ và Ba-lan, có ma nào nữa đâu mà lễ với tân.
Vụ lễ tân lo chuyện ẩm thực, xe cộ cho các tòa đại sứ và đón tiếp các đoàn. Có thể coi đó là cái vụ lép vế nhất trong bộ ngoại giao. Ông Vũ đình Huỳnh cũng không có chân trong “đảng đoàn” của bộ ngoại giao, và cũng không có thẻ mua hàng ở cửa hàng cung cấp đặc biệt ở phố Tôn Đản, mà chỉ có thẻ mua ở cửa hàng phố Nhà thờ (phòng thông tin của Mỹ xưa kia ở Hà-nội) hoặc cửa hàng khu Vân Hồ (nghĩa là nơi cung cấp cho chuyên viên bậc 2 và cấp thiếu tá).
Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đẻ ra chế độ cung cấp vì thế muốn biết một kẻ nào đó là “cán bộ quan trọng” ở mức nào thì cứ nhìn vào nhà ở, xe cộ đi lại và thẻ mua thực phẩm là biết liền. Còn tô vẽ một trăm thứ “cựu” cũng chẳng giá trị gì.


việt gian Nguyễn thị Bình,

\
VIỆT GIAN Xuân thủy

Nguyễn thị Bình, xuất thân là thư ký của Nguyễn thị Thập thôi, vậy mà qua bộ ngoại giao được làm Vụ phó Vụ lễ tân. Nhờ “đá lông nheo” với Xuân Thủy – bộ trưởng – nên khi Xuân Thủy cầm đầu đoàn miền Bắc sang hội nghị Paris về Việt Nam, Xuân Thủy đã tống Trần bửu Kiếm, bộ trưởng ngoại giao của cái chính phủ con rối nước “Mặt trận giải phóng” về lo cơm nước cho vợ, đặt Nguyễn thị Bình vào để làm “búp bê” biết cười của Xuân Thủy. Thiên hạ leo thang quan lại đỏ nhanh như vậy, có đâu như ông Vũ đình Huỳnh – ngồi một chỗ từ đầu cho đến… lúc bị “đảng và bác” cho đi… tù!!!
Vì thế, có thể có câu hỏi rằng: Tiêu chuẩn hưởng thụ của ông Vũ đình Huỳnh kém, có thể vì thất sủng, do ông ấy thẳng thắn và đạo đức hơn các “đồng chí trong đảng của ông ấy” chăng?
Câu hỏi này sẽ kết hợp được giải đáp trong các trích dẫn của chính Vũ thư Hiên viết ra trong cuốn hồi ký chính trị “Đêm giữa ban ngày”.



*****



Nếu Hồ chí Minh phải núp dưới những cái tên Trần dân Tiên (một nhà báo) hay T. Lan (một bác sỹ) để tạo ra nhân vật thứ ba,, dùng miệng của nhân vật thứ ba đó để tự bốc thơm, thì Vũ thư Hiên (cũng giống hệt Bùi Tín) học tập theo kiểu đó. Nghĩa là mượn mồm nhân vật thứ ba để tô son trát phấn cho cả hai cha con.

Thí dụ 1: Vũ thư Hiên đi xem bói, mượn mồm thầy bói để tự thổi ống đu đủ cho mình như sau:
“Sáng nay tôi độn biết ông sẽ đến. – Cặp kính đen nhìn tôi. – Thánh dạy: có quý nhân đến nhà.” (Đêm giữa ban ngày, trang 184)
Đọc câu trên của Vủ thư Hiên mà cứ tưởng như đang đọc… Đông Chu liệt quốc của Tàu.
Thí dụ 2: Vũ thư Hiên cũng mượn mồm thày bói để tô vẽ cho ông thân sinh:
“– Lận đận quá! – Ông già lắc đầu ái ngại – Tính ra thì thời Tây Tây bắt, thời Nhật Nhật bắt, đến thời ta cũng không yên. Con người sao mà khốn khổ thế! Cương cường quá, thẳng tính quá, nên mới bị tai vạ. Cự môn đắc địa lại gặp hỏa tinh, thất sát…” (Sách đã dẫn, trang 186).
Cái ông thầy bói này đúng là bốc phét chứ không phải bốc quẻ, vì: lấy ngày, giờ, năm, tháng sinh của Vũ thư Hiên mà lại tính được ra… tử vi của ông bố; rằng: “cự môn đắc địa” lại gặp “hỏa tinh, thất sát”!(?) Thêm nữa, làm sao mà Cự môn lại gặp Thất sát được??? Đây đúng là cách lấy tử vi của Vũ thư Hiên mà thôi – nghĩa là “xét lại” so với “giáo điều” của Trần Đoàn!!!

Ai đã có chút hiểu về tử vi chỉ bằng cái vảy móng tay, đọc xong đoạn văn trên của Vũ thư Hiên cũng thấy nhân vật thầy bói của Vũ thư Hiên là do hư cấu mà ra!
Thế là, qua mồm me-xừ thầy bói, Vũ thư Hiên thành quý nhân, mà còn do thánh đánh giá kia đấy! Sợ không? Còn ông Vũ đình Huỳnh thì số lận đận (có nghĩa là có tài mà không gặp thời) và là con người cương cường quá, thẳng thắn quá!(???)
Lại xin được trích lời của Vũ thư Hiên để xem ông Vũ đình Huỳnh có cương cường và thẳng thắn bình thường không thôi, chứ chưa nói đến là quá.

Trong “Đêm giữa ban ngày”, trang 232, Vũ thư Hiên viết:
“… Tính cách Thọ (Lê đức Thọ) thế nào thì ông (tức Vũ đình Huỳnh) đã biết từ nhà tù Sơn-la. Thọ đã nhiều lần mưu mô hạ uy tín các đồng chí lão thành cách mạng để tôn mình lên.
… Ngoài chuyện tính cách, chắc cha tôi còn có điều nghi ngờ Thọ trong sự liên lạc thậm thụt với công sứ Cousso, mà ông biết trong thời gian ông làm thư ký trong nhà tù Sơn-la. Vào những năm này, những cựu tù nhân Sơn-la kể lại, Lê đức Thọ một hồi được Cousso lấy ra làm tạp dịch tại nhà y. Cũng vào thời gian này một số việc của ban lãnh đạo tù nhân bị lộ. Tướng Đặng kim Giang cũng có chung với cha tôi một mối nghi ngờ đó. Trong một câu chuyện giữa hai người tôi nghe tướng Giang nói: “Phải chi Tô Hiệu còn sống. Vía nó (chỉ Thọ) cũng không dám như vậy.” Nhưng cả hai im lặng. Với một Lê đức Thọ quyền sinh quyền sát như thế, giữ im lặng là phải.”
Nếu sự việc trên là thật, thì bạn đọc có thể hiểu tính cách con người của ông Vũ đình Huỳnh như sau:
1) Vô trách nhiệm: biết việc Lê đức Thọ là tay sai của Cousso (cho là nghi vấn) mà còn có nhiều nhân chứng cũng biết, thì phải có trách nhiệm báo với tổ chức!
2) Cơ hội chủ nghĩa: lờ đi vì nghĩ rằng Lê đức Thọ sẽ phải đền đáp cái ơn im lặng.
3) Hèn: thấy Lê đức Thọ quyền sinh quyền sát nên sợ mà im lặng.
Bài học “Thất trảm sớ” của Chu văn An chắc không dám nhớ đến! Một người như vậy làm sao lại có thể được coi là cương cường và thẳng thắn, lại còn thêm tiếng quaù nữa!!!
Vũ thư Hiên nhận xét: Giữ im lặng là vàng. Điều này cho thấy những phần tự tô vẽ mình như con người bất khuất khi ở ngoài đời cũng như lúc ở tù là nói phét!
Cái thuở trước năm 1960 – nghĩa là trước khi có đại hội khóa 3 của đảng cộng – thì Lê đức Thọ mới chỉ là ủy viên trung ương, là phó của Lê văn Lương (ủy viên dự khuyết bộ chính trị) về công tác tổ chức. Còn Hồ thì quyền uy tuyệt đối: chủ tịch đảng cộng; chủ tịch nước; chủ tịch hội đồng quốc phòng.
Ông Vũ đình Huỳnh sợ Lê đức Thọ như thế nào thì đoạn văn trích ở trên do chính Vũ thư Hiên viết ra. Không biết có phải vì quên không hay vì “bịa kém” như Vũ thư Hiên tự nhận (sách đã dẫn, trang 182), nên đã lồng vào mồm ông Vũ đình Huỳnh những lời “sài sể và dạy dỗ” Hồ ngay trước mặt một người khác, theo Hiên cho biết, đó là phó chánh án tòa tối cao:
“Lại một lần nữa, cha tôi bỏ công việc về Hà-nội gặp ông Hồ chí Minh. Đang trong cơn đau gan nặng, ông chống gậy lên chủ tịch phủ. Ông nói lớn với ông Hồ: “Máu đồng bào, đồng chí đã đổ mà Bác còn ngồi yên được à? Chúng ta tuy không có họcchúng ta dốt, chúng ta phải vừa làm vừa học xây dựng chính quyền, vì dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào, đồng chí!”
Một con người “ngậm miệng” im lặng trước Lê đức Thọ có thể nào dám to tiếng trước mặt người khác, chửi khéo rằng Hồ chí Minh là “không có học”, là “dốt nát”. Mà lại là chửi thẳng vào mặt Hồ chí Minh???

Bạn đọc có thể khách quan tìm thấy câu trả lời. Chưa kể những tình tiết bịa một cách ngây ngô.

Thí dụ 1: Ông Vũ đình Huỳnh vừa mắng Hồ là “phải vừa làm vừa xây dựng chính quyền” trong lúc ông ta vi phạm một cách thô bạo. Đó là Hồ chí Minh đang nghe một cán bộ cao cấp báo cáo công tác (phó chánh án tòa tối cao) mà dám “xồng xộc” vào cắt ngang. Như thế không chỉ coi thường cá nhân Hồ và cá nhân ông phó chánh án tòa tối cao, mà còn là vi phạm tổ chức mà ông Huỳnh đề xuất phải… học!(?)
Thí dụ 2: Phủ chủ tịch, mà qua Vũ thư Hiên viết, cứ y như bãi chăn trâu. Tùy tiện ai muốn vào cũng được, không có ai thông báo cho Hồ. Và Hồ cũng làm việc tùy tiện, chẳng có lịch tiếp khách!!!

Một chế độ độc tài công an trị, chỗ nào cũng đầy chó vàng, chó xanh mà… Quả là nói phét hơn Trần dân Tiên!!!
Theo Vũ thư Hiên (trong sách đã dẫn) thì những điều Hiên viết đều được ông Vũ đình Huỳnh duyệt qua, vậy mà ông Vũ đình Huỳnh để nguyên xi thì lại lòi một tính cách nữa ngoài cái “ngồi ỳ” (tức im lặng) là kinh nghiệm hàng đầu trong ứng xử dưới ách nô lệ đỏ! Đó là bệnh hoang tưởng!!!
Trong “Đêm giữa ban ngày”, người đọc dễ dàng nhận thấy Vũ thư Hiên quen và được kính nể của đủ loại cán bộ cao cấp, tướng lãnh, các nhà văn tên tuổi. Sự đề cập đến các nhân vật đó là sự cố tình của Vũ thư Hiên, dùng họ như cái bàn cọ để đánh bóng bản thân và thân phụ. Tỷ dụ, để thanh minh vì sao ông Vũ đình Huỳnh lại chỉ được coi là loại cán bộ tầm thường, Vũ thư Hiên, mượn mồm của Kỳ Vân để nói như sau (sách đã dẫn, trang 258-259):

“Sở dĩ ông cụ cậu không có chức sắc trong đảng là vì hồi bí mật Đảng chủ trương để ông cụ hoạt động công khai, có chân trong trung ương hay là xứ ủy, bị Tây bắt nó xử dữ lắm, Đảng không có người tháo vát như ông cụ để chắp nối liên lạc cho các cơ sở Đảng. Đến lúc có chính quyền rồi thì ông Cả (tức Nguyễn lương Bằng) lại bắt ông cụ cậu giúp việc ông Hồ. Trường Chinh không thích ông cụ cậu là vì ông cụ thảng tính, không chịu xu nịnh. Lê đức Thọ thì ghét ông cụ lắm lắm, thằng tiểu nhân ấy khi còn ở Sơn-la với tụi mình bị ông cụ sạc cho mấy trận vì cái tính đâm bị thóc chọc bị gạo trong anh em. Chứ nó sao bì với ông nhà cậu được! Khi ông cụ vào Nam ra Bắc làm cách mạng thì nó còn là học trò. Bọn Lê đức Thọ viện cớ ông cụ không có chức sắc, không đưa ông ấy lên. Mình biết ông cụ cậu từ hồi bí mật, mình biết cái tính ông ấy, ngay thẳng lắm, mà nóng lắm, không kiêng nể ai đâu, nhưng đối với bạn bè, đồng chí thì tình nghĩa rất mực, cho nên mình quý.”

Chẳng lẽ cái gì cũng biết hết mà Vũ thư Hiên lại không biết rằng cái người cũng trong nhóm “xét lại” của cha con Vũ thư Hiên, là Dương bạch Mai, cũng hoạt động công khai, mà vẫn được là ủy viên trung ương chính thức? Còn thành thực mà nói, ông Vũ đình Huỳnh, lúc hoạt động công khai cũng chẳng ai nghe nói đến, mà người ta mới chỉ biết đến ông ta sau khi cả đám gọi là “xét lại” bị trừng trị, mà ông ta thì độc đáo là vì cả hai cha con cùng dính trấu. Chỉ đến lúc “Đêm giữa ban ngày” được in ra thì người ta mới nhớ đến rằng, ông Vũ đình Huỳnh này, đã có lúc là thư ký của Hồ, vào cái lúc Hồ vừa thoát khỏi hang Pắc-bó và vòng tay của cô bé đưa cơm, người Tày!

Không chỉ đánh bóng hai cha con, qua “Đêm giữa ban ngày”, Vũ thư Hiên còn đánh bóng các bộ mặt thờ Nga-xômà bọn thờ Tàu cộng chụp cho cái nón cối “xét lại”, thành những con người nhân bản, yêu nước, đấu tranh cho dân chủ v.v… Vũ thư Hiên còn bạo phổi nâng bậc cho bọn đó để cho thêm phần quan trọng. Chẳng hạn, Lê Liêm, Bùi công Trừng v.v… chỉ là dự khuyết trung ương thì nâng thành ủy viên trung ương chính thức!(?) Rồi có người, như ông Nguyễn minh Cần, qua Nga-xô học, rồi điện thoại về từ bỏ vợ cũ là bí thư đảng ủy Khu Hoàn Kiếm (Hà-nội), ở lại Nga-xô và lấy vợ Nga là từ một nguyên cớ khác (nhân chứng và nạn nhân đều còn sống, ở trong nước cũng có mà ra nước ngoài rồi cũng có), được Vũ thư Hiên khi qua Nga, móc nối, “kết nạp” vào cái gọi là nhóm “xét lại” để sử dụng. Vì thế chỉ riêng Vũ thư Hiên mới biết rằng ông Nguyễn minh Cần là “xét lại”, trong khi Nguyễn văn Trấn, trong “Gửi mẹ và quốc hội”, và ngay lá đơn kiện của Hoàng minh Chính, được in trong cuốn “Mặt thật” của Bùi Tín, thì ông Hoàng minh Chính (được coi là “trùm xét lại”) chỉ nhắc đến Phạm Việt là phó tổng biên tập báo Hà-nội Mới, không hề nhắc đến ông Nguyễn minh Cần, mặc dù lúc ấy ông Cần là cấp trên trực tiếp của ông Phạm Việt, vì ông ta là chủ nhiệm của báo Hà-nội Mới!!!(?)

Và, mặc dù chức vụ cao nhất của ông Nguyễn minh Cần chỉ là: thường vụ thành ủy phụ trách trưởng ban tuyên huấn của thành ủy Hà-nội, giữ chức Chủ nhiệm báo Hà-nội Mới và giữ chức phó chủ tịch của Hà-nội. Vậy mà Vũ thư Hiên nâng ông Cần lên thành phó bí thư thành ủy Hà-nội (chẳng khác gì nâng bà bộ trưởng lao động của chính phủ Mỹ thành phó tổng thống!). Tờ Thông-luận của nhóm Nguyễn gia Kiểng còn bạo phổi hơn, có lúc cònnâng ông Nguyễn minh Cần thành… “nguyên bí thư thành ủy Hà-nội”.
Việc nâng nhau lên chỉ có thể giải thích:
Ngu mà thích nói;
Có âm mưu đen tối!!!
Sách và bài viết của ông Nguyễn minh Cần khá là trung thực và có hiệu quả tốt trong việc vạch trần tội ác của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh. Tiếc rằng, lúc dính dáng đến Vũ thư Hiên, ông Nguyễn minh Cần trở thành mơ hồ, ca ngợi tên đồ tể của Hồ là Trần Độ; còn đau khổ khi nó chết và bậy nhất là đi theo võ của Vũ thư Hiên để nângnhững “trí thức trẻ ở Toronto” (mà ngủ li bì) đã làm lễ tưởng niệm, đọc văn tế tên đao phủ Trần Độ thành “trí thức trẻ tiên tiến” (có nghĩa ai không thương khóc Trần Độ là không tiên tiến), y hệt cái công thức xưa kia ông Nguyễn minh Cần có nhiệm vụ nhồi sọ người dân Hà-nội là không yêu CNXH là không yêu nước vậy!!!
Trong “Đêm giữa ban ngày” đầy rẫy những thông tin tầm bậy tầm bạ, đúng là Nói Phét Giữa Ban Ngày!
Một dịp khác chúng tôi sẽ trở lại “”Đêm giữa ban ngày”. Những thí dụ trích nêu trên nhằm chứng minh bàn chất nói phét của Vũ thư Hiên vẫn còn rất nghiêm trọng.

Giờ xin trở lại, những điều nói phét của Vũ thư Hiên, trong trả lời phỏng vấn của ông Võ triều Sơn (VNN) nhân cái gọi là kỷ niệm 50 năm về đánh nhau ở Điện-biên-phủ và Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam.

Thí dụ 1: Sau khi trả lời câu hỏi thứ nhất, sang câu thứ hai, Vũ thứ Hiên lại cố len ông thân sinh vào một cách mập mờ như sau:
“Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện-biên-phủ, khi chiến thắng đã gần kề, một người thân cận của ông Hồ chí Minh bàn với ông: “Lúc này là lúc tốt nhất để hòa đàm (với Pháp). Ta không tuyên bố chiến thắng Pháp, mà ở phút chót của Điện-biên-phủ nên liên lạc với Pháp để đưa Pháp trở lại với những điều kiện ta đã đặt ra trong những cuộc đàm phán từ năm 1945: nước Pháp công nhận nền độc lập toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, nước Việt Nam nằm trong khối Liên hiệp Pháp, Việt Nam ưu tiên xuất cảng nguyên liệu cho Pháp, ưu tiên nhập cảng hàng hóa Pháp… Trong tình hình hiện tại Pháp sẽ buộc phải chấp nhận những điều kiện mà trước kia họ chối từ. Một khi Pháp vẫn còn có mặt ở Đông-dương thì Mỹ không thể nhảy vào. Đổi một kẻ thù yếu lấy một kẻ thù mạnh là thất sách.” Ông Hồ chí Minh không nghe: “Thế ta như chẻ tre. Vậy mà còn bàn lùi.””


“Người thân cận” mà Vũ thư Hiên không dám nêu tên, dù con nít cũng đoán ra là ông Vũ đình Huỳnh. Thuở đó gần gũi Hồ ngoài Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Lê văn Lương, Tố Hữu, Lê thanh Nghị… thì chỉ có ít tà-lọt lo cơm nước, giặt đồ, cắt cỏ cho ngựa ăn. Còn Võ nguyên Giáp, Nguyễn chí Thanh, Nguyễn văn Trân… đều ngoài mặt trận. Chẳng lẽ Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Lê văn Lương… không có việc gì hoặc bị điên hay sao mà phải hạ mình “tâm sự cơ mật” cho nhà văn hồi ký của 40 năm sau!(?)
Một lần nữa, việc cho ông thân sinh ra sân khấu chứng tỏ Vũ thư Hiên lại “bịa kém” như đã thừa nhận trong “Đêm giữa ban ngày” (trang 182).
Không những “bịa kém”, Vũ thư Hiên còn khiến cái nhân vật “thân cận” đó thiếu thông minh và vạ miệng nữa:
- Thiếu thông minh ở chỗ như Vũ thư Hiên trả lời ngay trên đó rằng: “… chuyện người Mỹ sẽ thế chân người Pháp ở Đông-dương là điều có thể đoán được mà không cần đến một trí thông minh đặc biệt.”
- Hầu hạ bên cạch Hồ mà vẫn khờ khạo đến mức phê phán Hồ là “thất sách”. Trình độ bị hạn chế, không thuộc loại được coi trọng mà lúc nào cũng muốn tranh khôn hơn người, trách nào lận đận như “ông thầy bói” đoán sau này.
Thí dụ 2: Giờ đây khi mà mẫu quốc đỏ Nga-xô chết lăn đùng, còn bà dì ghẻ Tàu cộng hiện nguyên hình “mẹ của Cám”, và cũng vì qua VNN để phổ biến đến người Việt tỵ nạn cộng sản nên Vũ thư Hiên… phủ nhận sự “chiến thắng ở Điện-biên-phủ” là công thức:

Máu nô lệ Việt Nam + vũ khí Nga-xô – Tàu cộng + cố vấn Tàu cộng

Cái trò quay lưỡi 180 độ này là để phù hợp với đường lối của tập đoàn ngụy quyền Hà-nội hiện nay: đánh bóng Võ nguyên Giáp nhằm:
- Quậy lại lòng tự hào dân tộc của nhân dân Việt Nam – cả trong và ngoài nước, vì đang có “sự cố” với Tàu cộng ở Trường-sa, đồng thời chôn vùi cái tội dâng đất cho Tàu cộng mới đây;
- Chuẩn bị dư luận cho tụi nằm vùng và tụi chủ hàng, tụi bội thực thông tin lịch sử để sẽ tổ chức kỷ niệm “chiến thắng Điện-biên-phủ” là cái mà Vũ thư Hiên vừa lớn tiếng:

“Kẻ thắng ở Điện-biên-phủ là toàn dân Việt Nam”!(?)
- Chuẩn bị dư luận cho anh đại tướng, con nuôi chánh cẩm thực dân Pháp ở Đông-dương là Marty, “phó thủ tướng” phụ trách đặt vòng chống thụ thai… là Võ nguyên Giáp, nay đã 92 tuổi, nếu chết, sẽ được vác “văn phòng chống tham nhũng” ở hải ngoại (lãnh tụ là Trần Khuê, Phạm quế Dương) do nhà văn “hồi ký không làm chính trị” Vũ thư Hiên lèo lái, giúp đỡ các “trí ngủ trẻ tiên tiến” tổ chức tưởng niệm và sáng tác văn tế lâm ly hơn đợt tổ chức cho Trần Độ.
* Với “lá thư” của Giáp gửi cho “Hội nghị trung ương giữa nhiệm kỳ” vừa xong được Bùi Tín giải mã và bình; với việc Giáp lụng thụng trong bộ quần áo đại tướng, cùng vợ nằm trong trực thăng, có người xốc nách cho đi thăm lại Điện-biên-phủ;
* Với liên tục các bài báo – ở trong nước – ca ngợi Giáp và chiến dịch Điện-biên-phủ. Ở ngoài nước thì có bài trên tờ Le Monde, báo cánh tả từ thời thực dân Pháp, và… bài trả lời phỏng vấn của nhà văn hồi ký… Vũ thư Hiên;
* Và… tượng đài Điện-biên-phủ đã hoàn thành vừa xong, sau “chiến thắng”… đúng nửa thế kỷ. Nghĩa là sau cả việc lập đền thờ Nguyễn chí Thanh cũng như mụ Nguyễn thị Định (xin lưu ý rằng ngụy quyền Hà-nội cướp đất của Đền thờ Hai Bà Trưng trong khi chúng chiếm đất ở Bến-tre dựng đền thờ mụ Định còn lớn hơn Đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay nhiều lần).
Vũ thư Hiên phủ nhận việc Nga-xô và Tàu cộng viện trợ vũ khí để làm nên “chiến thắng” Điện-biên, bằng cách đi võ quen thuộc, lại bốc phét đúng bản chất.
Trong trả lời VNN, Vũ thư Hiên nói:
“Trong một cuộc gặp gỡ tình cờ ở Moskva, một sỹ quan Nga cho tôi biết ở thời điểm kết thúc chiến dịch, anh ta đã có mặt với một dàn hỏa tiễn Katiusha, và dàn hỏa tiễn này chỉ phóng có một loạt duy nhất vào trận địa Pháp”.(?)
Còn đối với Tàu cộng thì:
“Thế áp đảo của pháo binh Việt Nam là ở chỗ này cơ, ở cách đánh, không ở số lượng pháo. Chuyện pháo binh Trung quốc đã làm nên chiến thắng Điện-biên-phủ là chuyện tầm phào.”!!!

Như thế là chỉ cần quay lưỡi 180 độ, Vũ thư Hiên đã “chứng minh” được rằng: “Kẻ thắng Điện-biên-phủ là toàn dân Việt nam! Nào là từ người chỉ huy trực tiếp, tức Võ nguyên Giáp; người lo hậu cần “có ý nghĩa quyết định trong chiến thắng Điện-biên-phủ” (như Hiên trả lời VNN) là Đặng kim Giang; và “cách đánh” cũng là của TA.”

Đây sẽ là cơ sở lý luận để tụi nằm vùng vận động người Việt tỵ nạn cộng sản kỷ niệm “chiến thắng Điện-biên-phủ” cũng như tưởng niệm Võ nguyên Giáp khi hắn chết.
Nếu chúng ta lại bị lừa trong việc này thì lại tranh cãi, chia rẽ trong cộng đồng, vô thức rơi vào cái bẫy của ngụy quyền Hà-nội để chúng lèo lái chúng ta thông qua bọn phản tỉnh cuội với cái tổ chức manh nha của chi nhánh Mặt trận tổ quốc ở hải ngoại. Đó chính là “văn phòng chống tham nhũng” ở hải ngoại mà “lãnh tụ” là Trần Khuê– tác giả của chủ nghĩa Hồ chí Minh!!!
Cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” là nguyên nhân xa mở đầu tạo ra cộng đồng người Việt tỵ nạn. Xin đồng bào đừng quên.
Kẻ thắng trực tiếp là Nga-xô – Tàu cộng, tập đoàn Việt gian cộng sản. Ngay cả Vũ thư Hiên cũng thắng, vì nhờ đó, ngay năm 1954 Vũ thư Hiên đã được qua mẫu quốc Nga-xô, để về lại Việt Nam góp phần tích cực Nga hóanhân dân Việt Nam bằng sản phẩm văn hóa của Nga-xô.
Ngày nay, Vũ thư Hiên ra hải ngoại cũng từ mẫu quốc Nga-xô – tuy đã bệnh nặng – vẫn dang tay đón đứa con nô lệ 1993. Để từ đó:

Vũ thư Hiên Qua Trời Tây “Nói Phét”!!!
Vì lòng nhân ái và chân thật, cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản xâm lược đã rộng tay đón kẻ phản tỉnh, không thể nghĩ rằng trên đời này lại có thể có những tên nói phét nhằm lừa gạt mọi người, dùng cái thành quả lừa gạt đó làm cái giá đi đêm với ngụy quyền Hà-nội. Để rồi, cùng với lũ phản tỉnh cuội, đấu tranh dân chủ cuội, chủ hàng, nằm vùng, ngóc đầu lên đánh phá cộng đồng, từng bước lèo lái cái cộng đồng tỵ nạn cộng sản xâm lược này trở thành công dân CHXHCN/VN ở hải ngoại.
- Và, quả rằng bọn chúng có đạt một số thành công: tất cả đều có mác cầu chứng quốc tế do cộng đồng tỵ nạn cộng sản xâm lược ban cho;
- Một bộ phận nào đó (trong giới trẻ) đã chấp hành lệnh chỉ đạo từ trong nước của tụi đấu tranh cho dân chủ cuội. Thí dụ: tuên lệnh Nguyễn thanh Giang mà vinh danh, tưởng niệm, làm văn tế tên đao phủ Trần Độ;
- Không ít người đã gây quỹ từ thiện theo đường lối hoạt động chính trị mà Bùi Tín vạch ra cho cộng đồng tỵ nạn cộng sản, vô thức tiếp sức cho ngụy quyền Hà- nội, che đậy những khó khăn, tội lỗi của chúng trong việc cai trị để chúng có thể kéo dài thêm sự đô hộ;
- Một số nào đó đã tiếp sức cho ngụy quyền Hà-nội vươn cái vòi bạch tuộc gom dân vào tổ chức qua cái gọi là “Văn phòng hội chống tham nhũng” ở hải ngoại (một thành viên “dự khuyết” của Mặt trận tổ quốc).

*****

Sau những chuyện nói phét trong “Đêm giữa ban ngày”, thấy đạt kết quả, vì người lương thiện hay cả tin, Vũ thư Hiên tiếp tục nói phét để đánh bóng bản thân và đồng bọn trong mọi dịp viết và trả lời phỏng vấn. Vũ thư Hiênbốc phét cả những chuyện không ăn nhập gì với nội dung được phỏng vấn, chỉ cốt từng chút từng chút làm người đọc vì dễ tính hoặc vì thiếu thông tin mà tưởng Vũ thư Hiên là quý nhân, là uyên bác (không thèm có học vị dù được ưu đãi qua Nga-xô học từ cuối 1954), là đủ thứ v.v… để mà vô thức tiếp tay cho mọi âm mưu bất lương của tên đại bịp, trùm ba hoa phét lác!!!
Thí dụ trong cuộc phỏng vấn của VNN lần này về “Điện-biên-phủ”, Vũ thư Hiên đã nói phét trắng trợn như sau:
1) “Tôi là người Hà-nội. Chín năm tôi chờ mong ngày trở về quê hương.”(?)
Khi “nhận chính mình là người Hà-nội”, Vũ thư Hiên quá ba hoa, quên mất cuốn hồi ký thời thơ ấu của Hiên đã viết rõ nguồn gốc tông tộc từ đâu; thuở nhỏ cho đến 1945 ăn học ở đâu… để tự phong thành người Hà-nội!!!

Đúng là vừa nói phét vừa nhận vơ!!!
2) Ngày 11-10 đối với tôi không còn đẹp như ngày 10-10. Tôi bị đoàn tiếp quản kiểm điểm, tức là họp lại để phê bình, vì tội vừa vào thành phố đã tự do vô kỷ luật đi la cà phố xá không có lý do chính đáng, đã thế còn ngang nhiên ngồi uống cà phê với tư sản. Chuyện là thế này: tôi bất ngờ gặp Đoàn Chuẩn – anh nhận ra tôi đang lang thang trên vĩa hè, bèn lái xe đi theo tôi một quãng. Đoàn Chuẩn lúc ấy có một chiếc xe Buick sang trọng, nghe nói là duy nhất ở Hà-nội. Khi biết chắc là tôi rồi, anh mới gọi. Chúng tôi ngồi rất lâu trong quán cà phê An Thái Majestic, hàn huyên đủ chuyện.”
Xin lưu ý quý bạn đọc rằng:
- Vũ thư Hiên sinh năm 1933, năm 1946 mới 13 tuổi. Nghĩa là ở cái tuổi đánh đinh đánh đáo, đổ dế, lại từ Nhà quê mới theo gia đình ra thành phố chưa bao lâu. Hoàn toàn là một nhóc con vô danh.
- Cũng thời gian đó, nhạc sỹ Đoàn Chuẩn, đã là công tử con nhà giàu – em ruột bà Vạn Vân, nước mắm nổi tiếng toàn Đông-dương – một tay ăn chơi hào hoa khét tiếng Hải-phòng và Hà-nội. So với Hiên, chênh lệch hàng chục tuổi.

Thử hỏi nhạc sỹ Đoàn Chuẩn có thèm biết đến thằng bé con vừa nghèo, vừa nhà quê mới 13 tuổi???
- Nhạc sỹ Đoàn Chuẩn là người cận thị rất nặng, là người mơ mộng lúc nào cũng như đi trên mây, làm sao lại có thể để ý đến một tên “quần ống rộng, đội nón bán lạc rang” lang thang trên hè, để từ trong chiếc ô-tô hiệu Buick, lái theo cái tên “sạch hơn ăn mày tý chút”.
Một bên con nhà giàu ở thành phố Hải-phòng.
Một bên con nhà nghèo ở nhà quê của Nam-định, Thái-bình, mới hơn 10 tuổi – năm 1946 mới 13 tuổi, chẳng họ hàng thân thích, cũng chẳng bạn học – vì chênh lệch hơn chục tuổi!
Biết rằng nói với người tỵ nạn cộng sản xâm lược, phần lớn là công dân VNCH; còn gốc từ Bắc thì chắc ít ai biết đến cả Đoàn Chuẩn lẫn Vũ thư Hiên, thêm nữa, nhạc sỹ Đoàn Chuẩn đã về cõi vĩnh hằng nên Vũ thư Hiên tưởng có thể đi quả lừa nữa.
Một con người như vậy có đáng để nói chuyện với không chứ đừng nói chi đến kết bạn, nữa là suy tôn là lãnh tụ, ngoại trừ những ai muốn lập tổ chức về bán thuốc cao ở các bến xe!!!
Kết thúc bài này, xin hoan nghênh một bạn đọc đã góp ý rằng nên đổi đầu đề tên bài viết này là:
CHÂN DUNG MỘT TÊN NÓI PHÉT!!!
Ngày 20/04/2004
Chú thích:
1) Sincyr: tiếng “Pháp” này là của Trần Khuê.
2) 6 thí dụ trên trích từ “Đối thoại năm 2000”, phần d của Trần Khuê và Nguyện thị Thanh Xuân.


DP- blogger Người Buôn Gió và Đại ca Vũ Thư Hiên 

Toi la 1 quan nhan thuoc QLVNCH, toi co dip doc qua cuon sach dem giua ban ngay cua Vu thu Hien..doc xong toi thay ong ta la con nguoi lat long , phan boi , khong chung thuy.. Ba cua ong ta da tung la thu ky cua ho chi minh..ca nha ong ta da tung nho on mua moc cua che do..ban than ong ta cung da duoc cho xuat ngoai di Nga..the ma bay gio tro mat noi xau che do...khuyen ong ta nen bat chuoc tinh than Linh Muc Nguyen van Ly va Luat Su Le thi cong Nhan...ro la do ko biet xau ho..xau ho..xau ho....


-------------



Đàn Chim Việt sắp lập văn phòng tại Hà Nội

http://www.danchimviet.info/archives/55235

Một người được sự ủy quyền của Ban Biên Tập đang tìm kiếm địa điểm để mở văn phòng chính thức của Đàn Chim Việt ở Hà Nội. Dự tính, văn phòng sẽ đi vào hoạt động từ 1/6/2012.
Việc thành lập một chi nhánh tại Việt Nam là niềm mơ ước từ lâu và chúng tôi đã có những xúc tiến nhất định để đến gần với mơ ước này. Trong tinh thần đó, vài năm trở lại đây, Đàn Chim Việt trở nên ôn hòa và mềm mỏng hơn.
Mặc khác, phải kể tới những cố gắng ngoại giao ngầm và sự giúp đỡ của một số nhân vật cấp tiến trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước, trong đó có những lãnh đạo cao cấp.
Hiện độc giả từ Việt Nam chiếm gần 50% số lượng truy cập của trang web. Hy vọng sau khi có văn phòng chính thức và đội ngũ cộng tác viên, phóng viên thường trú tại Hà Nội, lượng bạn đọc trong nước sẽ gia tăng đáng kể.
Đây là văn phòng đầu tiên của báo chí Việt ngữ hải ngoại ra mắt độc giả trong nước.
Sắp tới đây, chúng tôi sẽ tiến hành tuyển dụng nhân sự cho văn phòng ở Việt Nam.
Quyết định cho phép Đàn Chim Việt mở văn phòng tại Hà Nội được phê duyệt trong bối cảnh Việt Nam có những cải thiện nhất định về tự do báo chí, nhất là qua vụ việc Tiên Lãng khi các báo trong nước được phỏng vấn và đưa tin khá trung thực và khách quan.
Xét trên bình diện quốc tế, Miến Điện mới đây đã cho phép tờ báo đối lập ở Thái Lan trở về cố quốc đồng thời dỡ bỏ nhiều rào cản kiểm duyệt. Thành tích trên đã khiến Miến Điện qua mặt Việt Nam về chỉ số xếp hạng tự do báo chí.
Việt Nam hiện đang đứng ở vị trí 172 trong tổng số 179 nước theo bảng xếp hạng do tổ chức Phóng Viên Không biên Giới (RSF) công bố cho năm 2011.
Những thay đổi này nhất định sẽ giúp Việt Nam cải thiện vị trí của mình về tự do báo chí.
BBT Đàn Chim Việt

---------


Nam Nhân -Dương Thu Hương gái TNXP của đại-việt-gian HCM 12 Het 6














Thanh Niên Xung Phong gái Dương Thu Hương của đại-việt-gian Hồ chí Minh
Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)
Từ những sự thành công trong việc cài lũ nằm vùng trong lòng nước Việt-Nam Cộng-Hòa, tạo thành lực lượng hỗ trợ đắc lực cho cái mà việt-gian cộng-sản gi là “ba mũi giáp công” đã khiến cho nhân dân Việt Nam có thêm ngày Quốc Hận 30-4-75.
Sau khi việt-gian cộng-sản đặt ách độ hộ lên toàn bộ Việt Nam Cộng-Hòa nói riêng (cả nước nói chung), chúng đã đưa ra mọi đường lối chính sách mà mục tiêu cuối cùng là nô lệ hóa toàn thể Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng-Hòa cả tinh thần lẫn vật chất. Một trong những thủ đoạn đó là lợi dụng thành quả của tụi ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản đã khiến nhân dân Việt Nam Cộng Hòa bị mơ hồ hóa về vai trò thực sự của tập đoàn việt-gian cộng-sản, cho nên mới có chuyện đóng tiền đi học tập, có nghĩa là tự nguyện vào tù. Đối với những công thương gia tin vào lời nói của những tên chóp bu của việt-gian cộng-sản từ Lê Duẩn đến Nguyễn Hữu Thọ rằng sẽ duy trì “năm thành phần kinh tế”. Thế là cái lực lượng duy nhất có thể làm thay đổi tình hình, sau 30/4/75, là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có thể sẽ kết hợp với những người Việt Nam làm nô lệ ở phía Bắc tỉnh giấc mộng du sau khi được vào tới Việt Nam Cộng Hòa, sẽ kết hợp với nhau để viết lại lịch sử.
Nhưng điều đó không thể xảy ra được nữa, bởi vì lực lượng Việt Nam Cộng Hòa hầu hết đã nằm sau hàng kẽm gai của các nhà tù mọc lên như nấm.
Có một điều mà việt-gian cộng-sản không ngờ tới, là chỉ trong một thời gian ngắn đã hình thành nên một cộng đồng tỵ nạn việt-gian cộng-sản ngày càng đông, càng mạnh, khiến cho việt-gian cộng-sản cũng phải tự nhắc nhở đến cái gọi là “vấn đề ai thắng ai vẫn còn mang tính thời sự”.
Cồng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản ngày càng mạnh cả về số lượng, cả về kinh tế, và tinh thần chống cộng, và tinh thần đoàn kết chống cộng đã tạo nên một sức mạnh, mà tập đoàn việt-gian cộng-sản rất lo ngại. Có điều lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn bị chúng khống chế trong nhà tù, và ở hải ngoại, nếu để ý chúng ta sẽ thấy một số những tên chuyên tổ chức biểu tình chống đối cả hai nền Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa, và chúng đã viết thành sách hẳn hoi (như Đinh Thạch Bích, chửi Tổng thống Ngô Đình Diệm là “chó nhẩy bàn độc”, chửi toàn bộ Quân, Cán, Chính của cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa) cùng với lũ cơ hội và một số có họ hàng, bà con trong binh lính hoặc công an việt-gian cộng-sản, cũng như một số đã đầu hàng việt-gian cộng-sản để lập ra một cái gọi là mặt trận Hoàng Cơ Minh (nay đổi tên là đảng Việt Tân) đã thiêu rụi niềm tin phục quốc của người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản bằng trò “Kháng Chiến Phở Bò”, cũng như chở lậu thuốc phiện. Nói cho dễ hiểu là kháng chiến dổm. Đến khi những quân-nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được ra khỏi nhà tù của việt-gian cộng-sản, ra hải ngoại, thì có nhiều người bị bệnh tật, phải chịu đựng cảnh gia đình tan nát, chịu đựng sự hành hạ của bệnh tật cho nên không còn nhiệt tình trong vấn đề phục quốc. Một số khác đã chấp nhận sự tẩy não của việt-gian cộng-sản để trở thành quân cờ chính trị trên bàn cờ của việt-gian cộng-sản thực thi âm mưu thôn tính cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản.


Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn là đối tượng bị việt-gian cộng-sản nhắm tới. Với sự tiếp sức của tổ chức Việt Tân, với những tên bất lương đầu hàng kiểu Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, chúng đã thao túng, tiến tới vô hiệu hóa mọi họat động của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cho đến nay, tình hình các tổ chức đã bị thoái hóa như thế nào, chắc chắn mọi người không ai là không nhận ra. Nhưng vì các cơ quan truyền thông ngôn luận đã bị tập đoàn việt-gian cộng-sản trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ đạo, nên những tiếng nói trung thực chỉ như tiếng chim gõ kiến trong cánh rừng hoang.
Tuy nhiên, những người có tâm huyết vẫn cất lên tiếng nói chính nghĩa, vạch trần tội ác của tập đoàn việt-gian cộng-sản với tên đại tội đồ của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, đó là Hồ chí Minh.
Chính vì thế, việt-gian cộng-sản đã phải tuyển lựa một đội ngũ đặc công đỏ để đưa ra hải ngoại.
Tại sao?
Tại vì tình hình thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, nhất là hệ thống tay sai của Nga xô ở Đông Âu và mẫu quốc Nga xô đã sụp đổ. Tình hình trong nước Việt Nam gặp không biết bao nhiêu những khó khăn, nhất là về kinh tế và ngoại giao. Trong khi đó cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản đã trở thành một mỏ đô la lộ thiên và một nguồn chất xám dồi dào. Đó cũng là tiếng loa thổi vào trong nước những luồng tư tưởng dân chủ nhân bản và cách mạng giành quyền thực sự làm người, thoát cảnh nô lệ, cho mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Chính vì thế tập đoàn việt-gian cộng-sản coi mục tiêu quan trọng đối với sự sinh tử của chúng là phải thôn tính bằng được cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản bằng phương pháp hòa bình (vì không thể dùng bạo lực được, để có thể làm sở hữu chủ cái mỏ đô la lộ thiên, nguồn chất xám phong phú. Và cũng nhờ đó bịp được những tiếng nói chính nghĩa cảnh tỉnh cho quần chúng thấy được tội ác của tập đoàn việt-gian cộng-sản, mà cái gốc của nó là tên đại việt-gian đại tội đồ Hồ chí Minh.
Kể từ khi tên đặc công đỏ Bùi Tín ra hải ngoại đã viết và nói những gì, gặp gỡ những ai, và ai đã tạo điều kiện cho tiếng nói của Bùi Tín tuyên truyền cái gọi là “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù”, “hòa giải, hòa hợp” (giữa cộng sản và người tỵ nạn việt-gian cộng-sản, cũng như "giúp đỡ xây dựng quê hương bằng bốn quỹ tình thương").
Thấy được kết quả bước đầu của Bùi Tín, cho nên chúng chỉ có kế hoạch bốn năm, như Bùi Tín tự thú. Nhưng rồi bốn năm qua đi, cộng đồng người việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản dù bị sự lừa đảo phản bội của tổ chức Hoàng Cơ Minh và các loại hoạt đầu chính trị khác, vẫn bằng mọi phương pháp tìm cách phục quốc. Một trong những phương pháp là vạch tội tập đoàn việt-gian cộng-sản nói chung và đặc biệt các tội ác của tên đại tội đồ Hồ chi Minh: Về cải cách ruộng đất và sửa sai cải cách ruộng đất; về đấu tranh tư tưởng và đấu tranh chống nhân văn giai phẩm; về chỉnh đốn tổ chức cho đến cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cho đến việc hợp tác hóa nông nghiệp, hợp tác hóa công nghiệp và thủ công nghiệp. Thực chất những thứ đó là tước đoạt toàn bộ đất đai ruộng đồng, ao hồ sông biển, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất đều trở thành tài sản của tập đoàn việt-gian cộng-sản (núp dưới từ công hữu).
Cho nên tập đoàn việt-gian cộng-sản đã xử dụng nhóm Hoàng minh Chính, như chính hắn đã tự khai đã lên kế hoạch "tiểu Diên Hồng" từ 1991.
Tên Vũ Thư Hiên được cử ra hải ngoại để giúp đặc công đỏ Bùi Tín mở rộng mạng lưới tuyên truyền đỏ ở Đông Âu. Đó là lý do tờ Đàn Chim Việt ra đời. Đồng thời Vũ Thư Hiên cùng Bùi Tín có trách nhiệm giúp đỡ, cộng tác với Việt Tân trong việc thổi phồng tên ăn cắp thơ Nguyễn Chí Thiện để trở thành một thứ “bố già” ở hải ngoại.

Vì sao?
Vì qua sự hoạt động của Bùi Tín, tập đoàn việt-gian cộng-sản đã biết rằng cộng đồng người Việt tỵ nạn, qua vụ Hoàng Cơ Minh đã mất lòng tin, đồng thời qua vụ Nga xô sụp đổ làm người ta nghĩ rằng chỉ có người cộng sản giác ngộ, phản tỉnh mới có thể lật đổ được tập đoàn việt-gian cộng-sản. Chính vì thế, đội lốt trong vai tác giả tập thơ vô đề, tập đoàn việt-gian cộng-sản đã dùng hết công suất tuyên truyền bịp bợm của toàn bộ hệ thống chính trị của chúng, cả trong và ngoài Việt Nam, hy vọng tên Nguyễn Chí Thiện sẽ được giải Nobel về văn chương, nhờ đó có thể trở thành lãnh tụ tinh thần và chính-trị của cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản.

Ngoài ra, chúng còn thông qua tên đặc công đỏ Vũ Thư Hiên, với sự hỗ trợ của những tên dân chủ cuội trong nước để thực hiện một âm mưu vô cùng quan trọng của tập đoàn việt-gian cộng-sản là chạy tội cho tên đại tội đồ Hồ chí Minh, đồng thời cũng che đậy một phần nào bộ mặt đặc công đỏ của Vũ Thư Hiên.

Đó là việc Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” đã đưa ra:
1- Hồ chí Minh bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khống chế, chỉ tồn tại như một bù nhìn;
2- Chuyện tình của Hồ chí Minh với Nguyễn thị Xuân (còn gọi là Nông thị Xuân), càng chứng minh thêm việc Hồ chí Minh bị mất quyền. Và cái tin này được sự tô vẽ của Vũ Thư Hiên, để làm món quà tặng cho người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản, chứng minh rằng cha con Hiên là những nhân vật quan trọng, và Hiên đã dám đưa ra một tin động trời như vậy thì chứng tỏ rằng Hiên là một tên phản tỉnh “thứ thiệt”.
Xin được trích lại đoạn viết của Vũ Thư Hiên kể về cái chết của chị em Nông Thị Xuân, Nông thị Vàng mà kẻ chủ mưu là Trần Quốc Hoàn. Dưới đây là phần Vũ Thư Hiên trao đổi với Nguyễn Tạo (người kể về cái chết của Nông thị Xuân):
(Trích):
- "Cụ Hồ không có ý kiến gì về mấy cái chết oan khuất đó?
Ông Nguyễn Tạo đăm chiêu suy nghĩ:
- Có nhiều điều chúng ta không biết được – ông nói, giọng bùi ngùi – tôi nghĩ thân phận Bác lúc ấy cũng tội nghiệp lắm. Biết nói với ai? Với Lê Duẩn? Hay Lê Đức Thọ? Hay nói thẳng với Trần Quốc Hoàn. Tôi nghĩ Bác cũng là con người, Bác cũng biết đau khổ. Nhưng cái thế của Bác buộc Bác phải im lặng.
- Nghĩa là, theo Bác, ông Hồ không có lỗi trong mấy cái chết nói trên?
- Không?
- Nhưng sự im lặng trước cái chết của họ? Ông Hồ cũng không có lỗi? Tôi gặng – bỏ ra ngoài mối quan hệ tình cảm, chỉ nói tới cái chết oan khuất của một con người, với tư cách đồng bào?
- Thế hệ các anh khắc nghiệt trong phán xét. – Ông thở dài – Tôi hiểu các anh. Các anh vô can. Chúng tôi tự đặt mình trong sự ràng buộc với Đảng với những quyết định của nó, dù sai dù đúng. Chúng tôi lo lắng cho uy tín Đảng. Chúng tôi cảm thấy nhục nhã nếu Đảng bị phỉ báng. Đảng là cuộc sống tinh thần của chúng tôi, là danh dự chúng tôi. Bác cũng vậy. Ông cụ cũng đau đớn lắm chứ. Ông cũng là con người. Như mọi người.Các anh khác. Các anh chỉ nhìn thấy một lẽ công bằng, đòi phải có nó, đòi mọi sự phải sòng phẳng. Cái đó là phải thôi. Đúng chứ không sai. Nhưng có nên như vậy không nhỉ?"
(hết trích).
tên đại tội đồ việt gian Hồ chí Minh
 
các tên việt gian Lê Duẩn và Lê Đức Thọ
 
tên đặc công đỏ Vũ Thư Hiên và TNXP gái Dương Thu Hương
Cái lưu manh của Vũ Thư Hiên chính là ở đoạn văn này. Dùng kiểu đối thoại với Nguyễn Tạo, hắn đã nhét vào mồm Nguyễn Tạo những lời bào chữa cho Hồ:
1.- Hồ chí Minh không còn thực quyền mà là bù nhìn trong thời gian chị em Nông thị Xuân, Nông thị Vàng bị giết (kẻ chủ mưu giết là Trần Quốc Hoàn, có sự toa rập của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.)
2.- Việc giết ngay Nông thị Xuân là một chứng minh cụ thể nhất cái thân phận bù nhìn của Hồ chí Minh. Không thể có một sự diễn tả nào khá hơn kiểu diễn tả như nói trên.
3.- Hồ chí Minh, qua mồm Nguyễn Tạo, đã nhắc nhở khéo cho mọi người biết rằng, cái cảnh này hệt như kiểu trong chuyện Tam Quốc của Tàu, Tào Tháo công khai cho giết vợ của Hiến đế. Dù là vua, nhưng là vua bù nhìn, nên Hiến đế chỉ đành khóc và đau đớn âm thầm nhịn nhục như một “con người bình thường”.
Khi đọc đoạn Tào Tháo giết vợ Hiến đế, chắc người ta chỉ căm thù Tào Tháo chứ ít ai lại nghĩ đến việc trách cứ Hiến đế, dù lúc đó Hiến đế đang là vua. (thời Trần cũng có chuyện anh em vua Trần bị buộc phải trao đổi vợ theo lệnh của Trần thủ Độ. Chưa thấy một ai lên án vua nhà Trần).
Nếu câu chuyện thực sự là như vậy, thì quả rằng Vũ Thư Hiên đã góp phần bạch hóa tội ác của việt-gian cộng-sản. Nhưng sự thực thì khác hẳn. Bởi vì qua kinh nghiệm của Bùi Tín cũng như của Nguyễn Minh Cần và một vài tên nằm vùng khác ở Việt Nam hải ngoại, Vũ Thư Hiên biết rằng hầu hết mọi người tuy có căm thù việt-gian cộng-sản, nhưng lại không hiểu gì về cộng-sản, từng đường đi nước bước của chúng, đều hoàn toàn mơ hồ. Cho nên để thủ thế, Vũ Thư Hiên đã Bịa ra cuộc đối thoại với Nguyễn Tạo, để vừa lèo lái dư luận đi theo hướng suy nghĩ của Nguyễn Tạo (thực ra là của chính Vũ Thư Hiên và tập đòan chóp bu việt-gian cộng-sản, để xóa bỏ không chỉ tội ác của Hồ trong vụ Nông thị Xuân, trong việc gọi là bốn cuộc cách mạng (cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, cách mạng văn hóa tư tưởng, cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh) cũng như vụ Mậu Thân 1968, và đặc biệt là vụ ra nghị quyết 15 (khóa 2), tháng 1-1959, phát động vũ trang xâm lược Việt Nam Cộng Hòa.
Nếu những ai đã có dịp nghiên cứu tương đối tỉ mỉ quá trính hoạt động của tên đại tội đồ Hồ chí Minh và tập đoàn việt-gian cộng-sản, thì sẽ thấy rằng:
1- Vụ Nông thị Xuân bị giết chết vào năm 1958 tại Hà nội. Thời gian này là lúc Hồ đã nắm gọn quyền lực tuyệt đối, cả vể đảng, cả về quân đội, cả về công an, cả về hành chánh, đối ngoại v.v… Bởi vì, Trường Chinh đã bị lột chức Tổng bí thư; một cánh tay mặt của Trường Chinh là Lê văn Lương bị đuổi ra khỏi bộ chính trị, ra khỏi cái ghế trưởng ban tổ chức trung ương, chỉ còn được là ủy viên dự khuyết trung ương, đang bị đi chịu kỷ luật tại khu 4 Việt Nam. Hồ đã giao cho Lê Đức Thọ, nguyên là phó của Lê văn Lương, đang là ủy viên trung ương việt-gian cộng-sản, làm quyền trưởng ban tổ chức trung ương. Trần Quốc Hoàn được làm bộ trưởng công an là chính đích thân Hồ chí Minh lựa chọn và đề bạt (trong “Đêm giữa ban ngày” chính Vũ Thư Hiên đã khẳng định điều đó). Và lúc ấy Trần Quốc Hoàn cũng mới chỉ là ủy viên trung ương chính thức. Nghĩa là cả Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn đều không là ủy viên bộ chính trị.
Hoàng Quốc Việt, một cánh tay đắc lực khác của Trường Chinh cũng bị đuổi ra khỏi bộ chính trị chỉ còn là ủy viên trung ương không mà thôi.
Còn Lê Duẩn lúc ấy chẳng qua bầu bán, đã được Hồ chí Minh ưu ái chỉ định làm quyền bí thư thứ nhất.
Thử hỏi rằng với chức vụ như vậy; với công ơn được Hồ vừa ban phát ân sủng như vậy, bộ ba Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, có đủ uy tín cũng như có đủ gan để áp đảo Hồ chí Minh hay không? Chưa nói đến là tuy có chuyện sửa sai cải cách ruộng đất và sửa sai chỉnh đốn tổ chức, nhưng Hồ đã trút bỏ mọi tội ác đó lên đầu cấp dưới, và uy tín của hắn vẫn hơn hẳn tất cả lũ tay sai của hắn cộng lại.
Việc Nông thị Xuân bị giết chết là một sự thật. Nhưng ai giết và tại sao phải đến tận cuối thập niên 80, câu chuyện mới bị đưa ra khỏi vòng bí mật. Ai đưa và đưa với mục đích gì. Chúng tôi sẽ có dịp trở lại chia sẻ với quý bạn đọc. Chỉ có điều chúng tôi xin được cung cấp tới bạn đọc rằng: Tên đại tội đồ Hồ chí Minh là kẻ ra lệnh thủ tiêu Nông thị Xuân.
Còn tất cả những điều Vũ Thư Hiên viết về vụ Nông thị Xuân, với sự toa rập của Nguyễn Minh Cần đã chứng minh rằng khả năng hư cấu của tên đặc công đỏ Vũ Thư Hiên và tên hiếp dâm nhân viên dưới quyền là Nguyễn Minh Cần hoàn toàn rất trẻ con. Xin tạm đưa ra một hai thí dụ:
1- Muốn kể cho Vũ Thư Hiên biết về cái chết của Nông thị Xuân, thử hỏi cần gì mà Vũ Đình Huỳnh phải đưa Vũ Thư Hiên lên tận chỗ xảy ra vụ án để rù rì với nhau, trong lúc cả hai cha con đều đang bị theo dõi. Cả hai cha con Vũ Thư Hiên ở Hà Nội cũng khá lâu chỉ cần ngồi nhà cũng có thể kể ra được, như Vũ Thư Hiên đã kể cho chúng ta biết.
2- Làm sao Vũ Đình Huỳnh là có thể biết tỉ mỉ như chính Vũ Đình Huỳnh là kẻ thực hiện chỉ thị của Hồ về vụ thủ tiêu này đối với Nông thị Xuân.
3- Làm sao Nguyễn Tạo không biết rằng cha con Vũ Thư Hiên đã bị tù về tội danh “làm gián điệp cho nước ngoài, xét lại, chống đảng”, để đến nỗi có bị bệnh điên rồ không mà kể cái chuyện chết người đó cho một thằng nhóc nổi tiếng trùm nói phét ở Hà nội; chưa kể đến Vũ Đình Huỳnh vào tù đã “thành khẩn” nhận tội.

Nguyễn Việt Chiến, Việt Phương, Nguyễn Trọng Tạo
Rõ ràng việc Nguyễn Tạo kể ra chuyện này không có một mục đích gì cả!!! Chưa nói đến rằng, chắc chắn cuộc đối thoại với Nguyễn Tạo là do Vũ Thư hiên bịa ra.
Dương Thu Hương: Đi tiếp con đường của Vũ Thư Hiên
Nếu chúng ta có dịp đọc cuốn “Đỉnh cao chói lọi” của TNXP gái Dương Thu Hương, từ Việt Nam qua Pháp (chắc cho gần với Vũ Thư Hiên) để hư cấu ra câu chuyện tình của Hồ chí Minh với Nông thị Xuân. Đồng thời cũng qua cuốn “Đỉnh cao chói lọi” muốn chứng minh lại một lần nữa Hồ chí Minh đã bị nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn áp bức và hành hạ dã man như thế nào. Và con người Hồ thật là người, đầy nhân ái, giản dị cao thượng???
Để rửa tội cho Hồ chí Minh khỏi bộ mặt đẫm máu của nhân dân Việt Nam, Dương Thu Hương đã sai lầm mà dùng máu của ả bôi lên mặt lên mồm Hồ chí Minh.
Viết “Đỉnh cao chói lọi”, Dương Thu Hương làm cái việc phóng đại quan điểm của Vũ Thư Hiên về Hồ chí Minh, nên cũng giống như Vũ Thư Hiên, ả TNXP này đã bất chấp sự thực lịch sử, bất chấp không gian thời gian cũng như hư cấu đến cả những người thân cận xung quanh Hồ. Như vợ chồng Vũ Kỳ là một thí dụ, kẻ đã được Hồ chí Minh cho theo làm thư ký riêng từ những ngày cuối tháng 8 năm 1945, đêm đầu Hồ từ rừng núi về đến huyện Từ Liêm, tạm ngủ tại đó, trước khi lén vào Hà nội. Dương Thu Hương cùng những tên trí thức ngựa ở Paris tưởng rằng với tác phẩm ba xu đó, tên tuổi cả bọn sẽ leo ngang đỉnh tháp Eiffel. Nhưng khốn nỗi: Chó không thể nói được tiếng người và con quạ chỉ biết kêu chứ không biết hót.
Kết luận: Chỉ cần lưu ý đến mấy điểm dưới đây chúng ta có thể biết được Dương Thu Hương và đồng bọn đang phục vụ cho ai và ai đang phục vụ cho Dương Thu Hương để ả có thể hoàn thành cái nhiệm vụ tiếp nối bước chân bồi bút đỏ của Vũ Thư Hiên…
1- Dương Thu Hương tự nhận việc phê phán mấy tên việt-gian cộng-sản là làm giặc. Có nghĩa ả đã công khai thú nhận hành động của mình là phi nghĩa, là sai trái. Còn tập đoàn việt-gian cộng-sản là đúng, là chính nghĩa. Cho nên ả còn nhấn mạnh “tội ác làm giặc” của ả rằng: Các con của ả mà đi theo bước chân của ả thì sẽ bị ả “rút phép thông công”.
2- Dù Dương Thu Hương đã viết những gì từ khi ả biết cầm bút, thì tác phẩm chót “Đỉnh cao chói lọi” và lá thư mà ả gửi cho nhà báo Huy Đức về vụ Hồ Thu Hồng có tác dụng phủ nhận tất cả những điều mà ả đã viết từ trước. Bởi những thứ đó chỉ là những đòn phép để tạo ra một bộ mặt “Dân chủ, đối lập” để có thể cưỡi lên đầu lũ trí thức ngựa ở hải ngoại và xử dụng lũ truyền thông bất lương nhằm biến đổi hình ảnh thực của tên đại việt gian Hồ chí Minh, con yêu tinh râu xanh biến thành bộ mặt một con người bình thường.
Cho nên cuốn “Đỉnh cao chói lọi” ra đời cùng lúc tập đoàn việt-gian cộng-sản tổ chức học tập cái gọi là: “Tư tưởng và đạo đức Hồ chí Minh” cho mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam ở trong nước và cả trong… cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản!!!???
Xong nhiệm vụ, nên Dương Thu Hương đã tuyên bố gác bút là như vậy.
(Hết)
Anh quốc, ngày 27 tháng 2 năm 2011
Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

http://nhabaovietthuong.blogspot.com/2011/03/nam-nhan-duong-thu-huong-gai-tnxp-cua.html
--------------

Đặng Phúc-blogger Người Buôn Gió và Đại ca Vũ Thư Hiên

audio http://www.youtube.com/watch?v=nu-81IifjMo

Đặng Phúc
Ối giời ơi! Ối làng nước ơi! Ra xem Đại sứ Michalak sắp cuối nhiệm kỳ lên Tivi la ầm lên là Việt Nam các vụ bắt bớ bất đồng chính kiến gia tăng , Cảnh sát Việt Nam đã bắt giữ nhiều blogger trong những tuần gần đây trong một chiến dịch đàn áp những người bất đồng chính kiếnv..v… Quảng Độ sợ quá trốn trong Thanh Minh Thiền Viện biểu tình tại gia, ôm chặt hai thùng tiền phước sương sợ công an nửa đêm đập cửa khiên hai thùng phước sương về đồn làm tang vật “phản động”. Còn blogger Người Buôn Gió lẻn cửa hậu của phi trường chun vào bụng máy bay chạy thoát ra hải ngoại hay nhờ có khuôn mặt tựa bò vàng nên được đảng cấp tiền, cấp Visa, cấp vé máy bay đi Pháp du dương trực chỉ Paris đến gõ cửa thăm tên đặt công đỏ việt gian Vũ Thư Hiên. Dù nhà nước có khó khăn với blogger nhưng để lọt sổ Người Buôn Gió, nên chàng ta ung dung đưa hình chụp hai tên “đại ca –đàn em” một già một trẻ đẹp giai như từ lò chăn trâu mới ra. Không biết blogger Người Buôn Giáo nói mật khẩu gì mà tên “đại ca” Vũ Thư Hiên lật đật mở tủ áo tặng luôn bộ vét , áo khoác hiệu Ý, tặng cả máy chụp hình máy quay phim, đưa đi dạo giòng sông Sen ( mới đọc qua tưởng là bên Pháp có sen đầm), buồn buồn vạch quần tè đại mé sông Sen tỉnh bơ như người Hà Nội cần gì bỏ tiền vào nhà tiểu tiện cho máy nuốt chửng. Bởi thế cậu con giai xem hình bồ khen rối rít tài tử xi-lê-ma (cinema).
Thế thì chúng ta hiểu blogger Người Buôn Gió quan trọng cở nào khiến cho "đại ca" Vũ Thư Hiên mở cả tủ đem đồ vét, áo hiệu Ý, máy ảnh, máy quay phim hối lộ thế kia? Vũ Thư Hiên ở nhà trị giá gần ½ triệu tiền Euro, đi ăn tiệm hết 100 đồng Euro. Thong thả ngày cà phê, cà pháo, nấu ăn hả hê, mời bạn bè tới nhậu nhẹt thế là cán bộ “đấu tranh dân chủ” hạng sang đấy chứ! Còn cán bộ hạng bét đi lao động xuất khẩu đói khổ như người rơm ngủ gầm cầu, ngủ công viên, đứng đường bán thân, bán xì ke nhan nhản khắp nơi ở Âu Châu không thấy Vũ Thư Hiên “đấu tranh” cho họ được cái quần, cái áo hay có vài Euro mua thức ăn lót dạ??? Nhà nước ta chỉ ưu ái cán bộ đấu tranh dân chủ cấp cao, còn cấp người rơm rẻ như bèo.
Blogger Người Buôn Gió thần sầu trấn lột ‘đại ca” Vũ Thư Hiên đồ vét, áo khoác chống lạnh, máy ảnh, máy quay phim . Xong màn ăn uống là blogger cắm ống đu đủ vào đít Vũ Thư Hiên thổi phù phù như gió. Nào là bao dung , vị tha, quắc thước.Nếu bảo Vũ Thư Hiên vị tha thì không đúng mà bảo là thằng hèn, thằng súc vật, thằng bất hiếu với cha với mẹ. Cha nó bị đuổi cổ đi công tác xa, để Bác Hồ ở nhà mằn mò mẹ nó. Đêm nó ngủ, tên dâm tặc Hồ nằm bên cạnh nó vân vê cái sự đời của mẹ Vũ Thư Hiên. Thế là trò con heo này diễn ra nhiều ngày trước mắt Vũ Thư Hiên. Cả mẹ con đều bao dung đến độ đem cả ảnh tên dâm ô Hồ cung kính thờ. Mỗi khi nhắc đến “bác” Hồ là Vũ Thư Hiên rưng rưng nước mắt nhớ ơn “bác” Hồ/dượng ghẻ hụt" trần truồng bò lên sờ nắn vú mẹ Vũ Thư Hiên và để cả "sự đời" cho Vũ Thư Hiên ngắm. Nếu không tin thì xem “Đêm Giữa Ban Ngày” đoạn Vũ Thư Hiên “sung sướng” ngủ chung giường với Bác.


Không biết Lão già quắc thước Vũ Thư Hiên có viết thêm tập 2 Đêm Giữa Ban Ngàyhay gọi là tập “bác” Hồ dâm ô Đêm Cũng Như Ngày để cho thế hệ thanh niên hồ chí minh “đời đời nhớ ơn bác”, học tập “sống theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”.
Đặng Phúc

No comments:

Thời Sự "Nóng"





------------------------------------------

---------------------------------------------------------
Vân Anh -Ngày 1 tháng 10 Hà Nội Chính Thức Bán Nước Cho Bắc Kinh
----------------------------------------





There was an error in this gadget