Nhà Báo Việt Thường

Nhà Báo Việt Thường

Tìm kiếm bài Blog Việt Thường xin gõ chữ vào đây

Loading...

Saturday, September 5, 2009

Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại An Lộc – Hồ Đinh

video
Audio

Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại An Lộc – Hồ Đinh


Hình ảnh



Sư đoàn 18 Bộ Binh và những ngày tử chiến tại Xuân Lộc

Hồ Ðinh

1. Sư đoàn 18 Bộ Binh và những ngày tử chiến tại Xuân Lộc

Kính tặng SD18BB, riêng Trung Đoàn 43BB Và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế (TDT/2/43)


Qua những tài liệu lịch sử đã bật mí, nên ngày nay ai cũng biết, trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), người Mỹ gần như cung cấp cho VNCH, tất cả vũ khí, quân trang, tiền bạc và những hệ lụy của cuộc đời mà bi thảm nhất là sự mất nước vào tạy CS quốc tế...

http://www.britishempire.co.uk/images4/eleganthead.jpg

Robert Elegant,

... Theo sự chỉ trích gay gắt của Đô đốc Sharp, trong cuốn "Strategy for defear", vị tư lệnh đầu tiên của Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thì sự thất trận tại VN vào ngày 30-4-1975, rõ ràng là cố ý, do những tên đầu nảo dân sự, ngồi tại Hoa Thịnh Đốn, tự trói một tay của quân lực Hoa Kỳ và Nam VN, trong khi họ đang tử chiến với khối CS đệ tam quốc tế, qua tấm bình phong, mang tên Bắc Việt. Trên tạp chí Encounter tháng 8-1981, ký giả người Mỹ Robert Elegant, cũng đã hài tội bọn trí thức, khoa bảng và truyền thông Tây phương thiên tả, đã dùng vũng bùn văn, báo, truyền hình của mình, để giúp CS đánh bại nước Mỹ. Ông đã chua chát nói thẳng với thế giới rằng: "Bắc Việt đã thảm bại trên chiến trường nhưng cuối cùng ngày 30-4-1975, người Việt quốc gia, đã phải mất nước tại Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Ba Lê, Luân Đôn, Huế và Saigon, vì trận giặc báo chí, từ những cái miệng thúi vô liêm sỉ, chuyên bẻ cong ngòi bút, dựng đứng câu chuyện, để hại người. "

Ngày nay ai cũng biết hết những thành tích của QLVNCH, qua thời gian tồn tại suốt 20 năm máu hận (1955-1975) giữa biển thù trời lệ, giặc ngoài, giặc trong, giặc đâm sau lưng chiến sĩ, ngay cả trong lời kinh tiếng kệ và những ngón tay lần hạt đỏ, đen. Cũng nhờ người lính VNCH đã can trường anh dũng, trong suốt cuộc chiến, cho tới giờ phút cuối cùng tháng 4-1975, bị Dương văn Minh quyền tổng tư lệnh, dùng kỷ luật quân đội, bắt mọi người đầu hàng giặc, mới phải buông súng tan hàng. Nhờ vậy, mà một thế hệ sau của VN ngày nay tại hải ngoại, mới có cơ hội ngẩng mặt nhìn trời, lấy lại sự hãnh diện của cha anh trong cuộc sống lưu vong uất hận trùng hằng.


Lawrence Francis O'Brien, Jr.

Tóm lại như bình luận của Luật sư Lawrence L.O"Brien trên The Wall Street Journal vào ngày 25-1-1983, chứng minh là từ sau ngày ký hiệp định ngưng bắn tháng 1-1973, nước Mỹ và quốc hội Hoa Kỳ, do đảng dân chủ "phản chiến" cầm chịch, kể cả cái gọi là Liên-Hiệp-Quốc, gần như ra mặt bưng bợ CS. Bởi vì phần lớn, họ đã bị Nixon, Kissinger và VC , dụ gạt, lừa bịp, dễ dàng như lừa con nít, qua cái thủ đoạn xảo quyệt, được tiếp tay công khai bởi bọn nhân danh, khoa bảng, trí thức ăn hại, khôn nhà dại chợ của miền Nam lúc đó Năm 1944, người Mỹ điều động 5000 quân xa, để chuyển Lộ quân 1 và 2 của Đồng Minh, xuyên nước Pháp, đánh Đức. Lúc đó và về sau, người Mỹ khoe là thành tích vĩ đại, để cho ai cũng biết và khen ngợi. Nhưng tại chiến trường Đông Dương, từ 1960-1975, khối CS quốc tế, đã dùng 10.000 xe bộ đội, để đưa 20 sư đoàn từ Bắc Việt vào xâm lăng Miền Nam VN, qua đường rừng Trường Sơn. Rồi nhờ cái loa tuyên truyền của trí thức Miền Nam, đâm mù thế giới, nên rốt cục ai cũng tin và bảo đó là lực lượng của quân cách mạng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tất cả đều là thực chất của một cuộc chiến vừa đánh, vừa đàm hay đúng hơn là hành động con buôn chính trị của siêu cường Mỹ, giờ chót bán đứng Đồng Minh VNCH cho kẻ thù, đổi lấy sự liên kết chiến lược với Trung Cộng, gỡ lại lời vốn đã tiêu phí tại chiến trường nhiều trăm tỷ đô la và ngàn ngàn sinh mạng. Phải biết như vậy, chúng ta mới đánh tan được cái huyền thoại, tại sao Miền Nam sụp đổ chỉ có 55 ngày và cuối cùng, xin thương xót cho thân phận những người đã cầm súng chiến đấu tại miền Nam suốt 20 năm qua, quanh quanh chỉ là kẻ thù và khung cảnh xã hội vô ơn bạc bẽo. Đời sống của lính và vợ con, nhất là khi lính nằm xuống hay bị thương đui, què, tàn phế, có thua gì kiếp sống của gia cầm, vậy mà cứ bảo Lính mình đánh thuê cho giặc Mỹ ? Tồi tệ hơn hết khi đi tìm sự thật, là câu chuyện người Mỹ trong lúc bỏ tháo chạy, đã dùng cái thủ đoạn "ăn không được phải phá nát bấy", khi đưa cái bã vật chất an toàn, làm mồi để dụ dỗ một số cấp chỉ huy của QLVNCH, nhất là không quân, đào ngũ bỏ đơn vị, đem máy bay trả lại để được tới Hoa Kỳ. Chính sự tồi tệ trên, đã góp phần phá hủy tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH, trong lúc nguy ngập. Sau rốt là việc sử dụng bom CBU đâu có trái với qui ước chiến tranh đã ký kết. Theo hai ký gia người Pháp thân cộng là Jean Lartégui và Pierre Darcourt, đã chứng kiến cảnh quân Bắc Việt bị chết ngạt tại Xuân Lộc, vì bom này, đã viết: "Miền Nam sẽ không mất, nếu Mỹ thả tiếp vài chục trái CBU vào đoàn quân xâm lược, đang công khai di chuyển trên các quốc lộ, thế nhưng Hoa Kỳ đã không làm ".

Mới đây, trong tác phẩm "55 days of the fall of South Vietnam", tác giả Alan Dawson, có nhắc tới hai tiểu đoàn còn lại của Nam VN, chừng 600 người, giữa trùng vây của Bắc Việt, sau khi QLVNCH được lệnh rút bỏ Xuân Lộc. Chuyện có thật nhưng Alan viết sai dữ kiện, vì giờ chót rút quân, không có một đơn vị nào, kể cả Nghĩa quân, bị buộc ở lại để bảo vệ Xuân Lộc, lúc đó không còn giá trị chiến lược, vì Bắc Việt đã tìm đường khác để tiến quân về Saigon. Đơn vị bị kẹt lại, đó là Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43, SD 18BB, do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế làm Tiểu Đoàn Trưởng. Trong suốt những ngày tử chiến tháng 4-1975, TD2/43/18 có nhiệm vụ đóng trên Núi Thị, ngoại ô thị xã Xuân Lộc, để bảo vệ dàn pháo của Sư Đoàn. Khi Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Mặt Trận Long Khánh, nhận lệnh của Bộ Tổng Thanm Mưu QLVNCH, qua lệnh trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, ngay tại mặt trận, "BỎ LONG KHÁNH" và triệt thoái tất cả các đơn vị đang chiến đấu, gồm SD18BB, Tiểu Khu Long Khánh, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Biệt Động Quân... thì Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 43/SD18BB là đơn vị cuối cùng, trong cuộc rút quân, vì còn có nhiệm vụ đánh nghi binh, chận đường, để giúp đại quân an toàn trở về cõi sống, nên bị thiệt hại nặng nề.

Còn luật sư Nguyễn văn Chức thì dựa vào tài liêu của Hoàng Cơ Thụy và Frank Snepp, nên nói trực thăng tới bốc 4 tiểu đoàn còn lại của SĐ18BB, trong đó có Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Đại Tá Trung Đoàn Trưởng TrĐ43/18 là Lê Xuân Hiếu, vì vậy bị 40.000 bộ đội Bắc Việt tràn ngập. Thật sự trong cuộc lui quân, từ tướng xuống tới hàng binh sĩ, không có ai được trực thăng tới bộc về, mà tất cả đều hành quân bộ. Lúc các cánh quân VNCH, hầu hết đã về gân như an toàn tại Bình Giả, Phước Tuy,thì TD2/43"18BB, chỉ một mình còn trong biển giặc như Alan Dawson mô tả. Sự thật là vậy đó, các nhân chứng như tướng Đảo, các Đại Tá Lược, Lến, Hiếu. Dũng, Công... của SD18), Đại Tá Phạm Văn Phúc-Tỉnh Trưởng Long Khánh, Đại Tá Đính, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, các Tiểu Đoàn Trưởng thuộc SD18BB, có tham dự trận đánh và cuộc lui quân như Nguyễn Phúc Sông Hương, Ý Yên-Phan Tấn Mỹ, Đại Uý Lê Sơn, Chi Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, các Đại Uý Đặng Phúc (Biệt Đội Quân Báo), Ngô Gia Hậu (Phóng Viên), Nguyễn Hào (Phòng 3.SD)... và nhất là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/TrD43/SD18BB, người từ cõi chết trở về, vào tù tại Bắc Việt và tới Mỹ qua diện HỌ.. đều là những nhân chứng sống, có đủ tư cách, để nói và viết những sự thật lịch sử.

Tóm lại, đến giờ này, sự đau đớn nhất của người Lính Miền Nam, là thấy cái thân phận bọt bèo của chính mình, cứ bị đem ra mổ xẻ rao bán, bởi những người không hề biết gì về thực chất của đời lính, dù họ có là lính. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, câu chuyện sử gia số 1 của nước Mỹ là giáo sư Joseph J.Ellis, tại Đại Học Mount Holyoke, vừa bị nhà báo Walter V. Robinson, lột mặt nạ trong bài báo "Professors past in doubt ", đăng trên tờ Boston Globe ngày 18-6-2001, về những đề tài có liên quan tới Chiến tranh VN và sự Ellis dù ở trong quân đội Mỹ nhưng chỉ ngồi dạy học ở Hoa Kỳ, nên đã mao tôn cương, khi viết trận đánh không có đại bàng. Mới đây là bài học thất cử của ứng cử viên tổng thống Mỹ, thượng nghị sĩ John Kerry, cũng do chính khẩu nghiệp, đã làm hại thân mình. VC và những kẻ lừa đảo ngòi bút, đã đến lúc phải đối mặt với những tra vấn của lương tâm, trong cuộc chiến VN vừa qua, vì cuộc chiến đấu thần thánh của QLVNCH, trách nhiệm bảo vệ quê hương, trong đó có SD18BB, LD1 Dù, BDQ, DPQ và NQ Long Khánh.. vào những ngày cuối tháng 4-1975, là câu chuyện lịch sử, trong dòng sinh mệnh của Dân Tộc Hồng Lạc, miên viễn sẽ không bao giờ bị phủ nhận của bất cứ một ai, qua thời gian hay miệng lưỡi nào, kể cả những lỗ miệng có gan có thép, nhổ ra nuốt vào của bọn văn cộng giặc cộng.


1. Thân phận người lính VNCH trong 20 năm chinh chiến (1955-1975)

Sau ngày 30-4-1975, quê hương của người Việt quốc gia bị CS quốc tế dô hộ hoàn toàn từ nam ra bắc, mọi người mới sáng mắt thấy rằng, không có một lãnh tụ nào của đảng, từ Hồ Chi Minh xuống tới chàng du kích, biết coi trọng sinh mạng của người dân, bởi vì nguyên tắc thành công của CS, là chỉ có thẳng tay bắn giết , thì mới có sự phục tùng. Riêng chuyện dài VN, vì chính người dân lúc trước tự xiềng xích mình, để chui vào thiên đàng xã nghĩa, cho nên nay, cũng chỉ có người dân, tuy thầm lặng đứng bên vệ đường thời gian, nhưng lại là động lực chính, bẻ gãy được khóa cổng thiên đường mù, để trở về cuộc sống tự do no ấm của con người.

Ngày nay, mỗi lần đọc lại lịch sử, cảm thấy ngùi ngùi và thương xót biết bao cho dân tộc mình, bỗng dưng trở thành nhược tiểu, vì cả nước mù quáng nên bị Hồ Chí Minh, thắng một vụ lừa bịp bẩn thỉu nhất, trong dòng sử Việt, từ vụ cướp chính quyền tháng 8-1945, cho tời sự lãnh đạo của CS trong chín năm kháng Pháp. Cũng từ đó, người Việt quốc gia coi như đứng trước ngã ba đường sinh mệnh và dù có chọn lối nào chăng nữa, rốt cục cũng chỉ dẫn tới địa ngục mà thôi.

Năm 1951, thống chế De Lattre de Tassigny sau khi chận đứng Việt Minh tại Vĩnh Yên, Bắc Việt, đã lên lớp người Việt lúc đó thụ động, hèn nhát, không chịu ra chiến trường để bảo vệ quê hương mình. Trong cuộc chiến Đông Dương lần 2 (1955-1975), thế giới bên ngoài, qua tuyên truyền từ báo chí của VC và truyền thông Mỹ, Tây Phương, nên đã đánh lận cuộc xâm lăng của CS quốc tế, thành một tấn tuồng chống ngoại xâm của Hà Nội. Nữ ký già Ý là Oriana Fallaci, trước trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi tới Hà Nội phỏng vấn, Võ Nguyên Giáp, mới biết Bắc Việt đã nướng trên 800.000 sinh mạng bộ đội tại Miền Nam, trong thời gian qua, trước khi tiếp tục nướng trong trận hè đỏ lửa 1972 và địa ngục Xuân Lộc tháng 4-1975. Điều này cho thấy là CS không bao giờ thiếu nhân lực, tiếp tế lẫn tình báo. Ngược lại thì mai mỉa biết bao, trong cách đối xử của người dân ta đối với phe mình, nhất là những vùng bị giặc tạm chiếm hay là xôi đậu. Nói chung, Chính phủ VNCH trong suốt 20 năm, cố gắng gần như tuyệt vọng, chỉ mong mang lại cơ hội sống tự do, no ấm cho người dân, nhưng giống như ngày trước, vì quá khao khát độc lập, nên người dân đã khoán trắng cho họ Hồ và đảng. Lần nữa, trong cuộc chiến, họ cũng bỏ mất cơ hội cuối cùng. Nói như vậy để mọi người thấy rõ thân phận của người Lính Miền Nam, qua tấm lòng hy sinh cao cả, trong gần một phần tư thế kỷ, phải chiến đấu ở một chiến trường bất hạnh, thù nghịch, dù rằng những người Lính ấy, đã phải đem cái mạng sống cùng với hạnh phúc của cá nhân và gia đình mình, bảo vệ làng xóm, chùa nhà thờ và sinh mạng của người dân miền Nam, trong đó có nhiều kẻ đang chực chờ giết hại Lính. Dù vậy, bao nhiêu xương máu của QLVNCH nói chung, đã hy sinh vô cùng ý nghĩa, phần nào đã mang đến no âm tự do cho mọi người, dù chính quyền quốc gia chưa được toàn hảo trọn vẹn như mong muốn, trong thời gian 1955-1975.

Ra đời từ năm 1950 nhưng quân đội Quốc Gia VN, coi như chỉ được chính thức nhìn nhận bằng văn kiện hành chánh, trong ngày Quân Lực 19-6-1965. Sự nghịch lý này, phần nào nói lên những bất hạnh chồng chất, đã và sắp tới với một quân đội mang đầy máu lệ, ngay từ ngày thành lập. Sự lộng hành của báo chí và truyền thông Mỹ, gần như trong suốt cuộc chiến, đã trút hết căm hờn lên quân đội VNCH, làm tác hại ghê gớm đến tinh thần chiến đấu của người lính, đến nỗi nhà báo Mỹ là Robert Elegant phải ngao ngán viết rằng, chiến tranh VN trước hết đã thua trong trận giặc miệng và nước bọt tại hậu phương.

Ngày 17-4-1961, tổng thống Mỹ John F Kenedy, nghe xúi dại của CIA, dưa 1000 quân đổ bộ lên đảo Cuba, lật đổ Trùm Fidel Castro nhưng kế hoạch Bay of Pigs hoàn toàn thất bại, lực lượng đổ bộ bị bắt sống gần hết và Mỹ phải đem máy cầy cùng xe ủi đất, chuộc tù binh về. Thua me gỡ bài cào, Kenedy đem con thiêu thân Nam VN làm vật tế thần, gỡ thể diện. Sứ mệnh này, được giao cho Đại Tá Lansdale, mở cuộc chiến tranh bí mật (The Secret War) tại miền bắc VN và Lào, nói nôm na là màn đem con bỏ chợ. Tiếp tới là sự ngây thơ của Mỹ, dại dột ký thỏa ước trung lập Lào, giúp Bắc Việt mượn đường xăm lăng miền Nam. Cuối cùng là gởi 12.000 cố vấn sang Nam VN, sau khi bị Trùm đỏ Liên Xô là Khrushchev nhục mạ tại bàn hội nghi thượng đỉnh. Tóm lại như Edward Weintal và CharleBarlett viết trong "Facing the Brink", thì Kenedy đã nghĩ rằng đưa vài chục ngàn cố vấn vào VN, để buộc Hà Nội từ bỏ mộng cuồng xâm nhưng đó lại là sự điên rồ, để cho giặc có cái cớ, gây chiến tranh xâm lược VNCH mà thôi. Máu VN bắt đầu đổ từ đó, bởi sự ngông cuồng lếu láo của tổng thống Mỹ.

Với tổng thống Lyndon Johnson, thì tình trạng VN càng thê thảm hơn, vì rõ ràng khi lên thế chức tổng thống Hoa Kỳ, thay Kenedy bị ám sát, Johnson chỉ vì rất sợ bị đảng Cộng Hòa buộc tội quá nhu nhược khi đương đầu với CS, nên đã đưa nước Mỹ và Miền Nam VN vào một cuộc chiến tranh kỳ lạ nhất trong lịch sử , với sách lược "không cho thắng". Như John Fisher, đô đốc của Anh đã viết: "thực chất của chiến tranh là tàn bạo, đánh giặc mà cầm chừng là ngu xuẩn, nên muốn đạt chiến thắng, phải đánh mạnh và đánh khắp nơi". Theo các nhà quân sử, trong chiến tranh VN, Mỹ chỉ cần phong tỏa đường biển, oanh tạc biên giới Việt-Hoa-Lào và cho lệnh QLVNCH tấn công trả đũa vào Bắc Việt, thì giặc đã yên từ lâu. Nhưng Johnson thì làm ngược lại, hạn chế tối đa các mục tiêu trên lãnh thổ Bắc Việt, với lý do sợ chọc giận Bắc Kinh. Tại Lào, các căn cứ của Bắc Việt được coi là bất khả xâm phạm, cấm tấn công. Đồng thời Johnson đưa đề nghị viện trợ kinh tế, dụ VC chấm dứt xâm lăng Miền Nam, nên đã bị giặc Cộng khinh bỉ xem thường, vì đã biết được con bài tẩy "kém nhất" trong quân bài Domino, chính là siêu cường Hoa kỳ, mà khối CS lúc đó ngạo là con cọp giấy...

Với tổng thống đảng cộng hòa Richard Nixon, ngoài bệnh chủ quan, tự tin, tự tôn của Kennedy, Johnson còn là một tổng thống Mỹ liên hệ sâu đậm nhất trong chiến tranh VN, bị kết tội là kẻ xảo quyệt, bội tín, bất nhân, nên dân chúng Mỹ ghét nhất. Do thành tích bán đứng Nam VN cho CS đệ tam quốc tế vào ngày 30-4-1975, cũng như tội đã liên kết với trùm đỏ Mao Trạch Đông năm 1972, vì lợi lộc của Mỹ mà phản bội thế giới tự do, nhân quyền, nên sau 25 từ chức tổng thống, được các nhà báo Mỹ xếp hạng, chỉ đứng trên tổng thống trốn quân dịch là Bill Clinton.

Thành tích khôi hài nhất của cặp Nixon-Kissinger là chủ thuyết "Nixon", hay "VN hóa chiến tranh", thực chất là cuộc chạy làng, bỏ bạn, vô liêm sỉ của một siêu cường số 1 lúc đó và ngay cả bây giờ. Nói rõ hơn, Nixon chỉ vì quyền lợi cá nhân, nên tuyên bố "đơn phương" rút quân, trong lúc đang hợp đồng chiến đấu với nhiều quốc gia khác. Đây là một sự lố bịch và còn tàn nhẫn đối với sự sống chết của VNCH. Trước tin này, Hà Nội chỉ cần ngồi chờ để thừa cơ đánh lén. Riêng những màn dội bom và đánh vào mật khu Mỏ Vẹt tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào 719 cũng là những trò bịp, dùng máu xương của QLVNCH lót đường cho cặp Nixon-Kissinger, mua thời gian cho quân Mỹ về nước sớm hơn hai năm, trước khi Nixon tái ứng cử vào năm 1972. Trong hồi ký "A Sldier"s Report" của tư lệnh Mỹ tại VN, tướng Westmoreland đã vô cùng cảm phục và thương xót người lính VNCH, tham dự trong chiến dịch Lam Sơn 719. Ông đánh giá cao QLVNCH, khi cho biết, chính kế hoạch này là của Kissinger, định dùng 60.000 quân Mỹ nhưng rồi thấy không chắc thắng trận, nên đã bỏ ý định và bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thi hành. Theo sử liệu, trong trận này, VNCH chỉ có 17.000 quân và dù bị tổn thất nặng, do Mỹ thất hứa không yểm trợ đủ hỏa lực pháo và không yểm, nhưng Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng đã đạt được mục đích cuối cùng, là đặt chân vào cứ điểm Tchepone như Nixon mong muốn.

Tóm lại suốt cuộc chiến 1960-1975, người Mỹ lúc nào cũng muốn QLVNCH chiến thắng CS quốc tế, trong khi chính mình không làm được. Vô lý hơn là bó buộc người lính Miền Nam phải chiến đấu, trong khi không cung cấp đầy đủ vũ khí, quân dụng, kể cả việc ngăn cấm không cho tấn công giặc. Chưa hết, chỉ vài ngày sau khi Nixon nhậm chức tổng thống lần 2, thì quốc hội đảng dân chủ Hoa kỳ, đã cắt xén những hứa hẹn mà Nixon hứa với Nam VN trước khi VN hóa. Tồi bại nhất là quốc hội của đảng dân chủ, đòi Nixon phải tiết lộ bí mật quốc phòng, để kịp báo cho Hà Nội, tấn công VNCH. Cuối cùng lý do mà VC phải ký với Mỹ tại Ba Lê tháng 1-1973, nói chung là không còn chịu nổi những đợt oanh tạc khủng khiếp và hàng rào thủy lôi quanh hải cảng Hải Phòng nhưng trên hết, theo tố cáo của nhân chứng Stephen Young, vì cặp Nixon-Kissiger cam kết với VC, là sẽ không đòi quân Bắc Việt rút về lại bên kia vỹ tuyến 17 như tinh thần hiệp định Genève 1954, nên Hà Nội mới ký thỏa hiệp bịp, còn Mỷ thì ký Bản khai tử VNCH. Sau này chính Stephen Young đích thân tới hỏi Nixon, có biết Kissinger tự ý sửa "Bản đề nghị ngưng bắn của đại sứ Mỹ ở VN là Bunker không", Nixon trả lời "KHÔNG". Một điều bí mật khác, là Kissinger trong thời gian hành sử chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho TT. Mỹ, đã hoàn toàn học theo đúng sách lược của tên điệp viên Pháp thân cộng Jean Saintery (đại diện phe De Gaulle năm 1945 ), một kẻ đã từng hợp tác với Hồ Chi Minh, để thực dân Pháp công khai trở lại Bắc Việt năm 1946. Chính Saintery đã chỉ dậy bài bản, giúp Kissinger bán đứng Nam VN cho Hà Nội, gián tiếp trả thù việc chính phủ VNCH theo Mỹ, hất chân thực dân ra khỏi đất Việt.

Cũng liên quan tới Người Lính VNCH, qua tài liệu của MACV mới phổ biến, cho biết, suốt cuộc chiến, Nam VN đã có nhiều binh sĩ đào ngũ nhưng đó lại là một điều rất kỳ lạ, vì Lính đào ngũ không phải để đầu hàng VC, mà họ muốn trở về nguyên quán đầu quân vào các đơn vị địa phương, để chiến đấu gần gia đình mình. Tình yêu quê hương của người Việt là vậy đó, chỉ khi nào không còn con đường nào khác để lựa chọn, họ mới đành gạt lệ bỏ xứ mà trong đau khổ. Cho nên đâu lạ, năm 1954, chia đôi đất nước, không riêng gì 300.000 binh sĩ và gia đình của Quân đội Quốc Gia, mà còn cả triệu người dân bình thường khác, đứt ruột, lìa nơi chôn nhao cắt rún ở miền Bắc, để di cư vào Nam, vì họ không muốn sống chung với CS bạo tàn. Còn Dwight Owen cố vấn Mỹ thì nói QLVNCH không có những thứ tối thiểu mà các quân đội nước khác có, từ lương bổng, khẩu phần hành quân, nghĩ phép... tới tình thương làng xóm. Chính những điều này làm giảm sút tinh thần và hiệu năng chiến đấu. Nhưng tất cả cũng đều là phép lạ, khiến cho người lính Miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng tại Saigon, trong khi Quân Đoàn 4 vẫn an toàn và chờ Chính phủ trung ương di chuyển tới, để lại tiếp tục chiến đấu, thì có lệnh buông súng đầu hàng giặc. Tổng thống Nixon những ngày cuối đời, trong tác phẩm "No more Vietnams" nói rằng nếu tin vào báo chí Hoa kỳ, thì VNCH không còn tồn tại sau khi Mỹ rút quân hoặc khi Mỹ chưa tới giúp. Điều này cho thấy QLVNCH rất anh dũng, kiêu hùng và qua những bản phân tích quân sự khách quan, thì lính miền nam giỏi gấp 10 lần bộ đội miền bắc về mọi mặt, kể cả nhân cách và tình người. Phân tích gia Allan Goodman, năm 1983 trong cuộc hội thảo đề tài rút kinh nghiệm chiến tranh VN, quy tụ 50 học giả, tại Smithsonian Hoa Kỳ, đã ca tụng tinh thần chiến đấu anh dũng của người lính miền nam, họ đã tử trận trên 200.000 người và hơn nửa triệu thương binh. Nhưng có lẽ mai mỉa nhất là lời của Lewis Walt, tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã viết:

"Không phải ngồi biểu tình, ăn chơi, trốn lính đi tu hay làm báo, viết văn, lấy Mỹ tại Saigon-Huế, mà có một con số chết và bị thương như vậy".


2. Sư đoàn 18BB và các đơn vị tăng viện, tử chiến với CS Quốc Tế tại Xuân Lộc tháng 4-1975:

Sau ngày Saigon thất thủ, ngày 2-5-1975 Peter Kahn chủ bút Wall Street Journal, giải báo chí Pulitzer, đã viết bài truy điệu Nam VN đăng trên báo này "Quả thật sau cùng, quân lực VNCH đã rã ngũ vì tuân theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội lúc đó, là tổng thống hai ngày Dương Văn Minh. Nhưng đó không phải là một quân lực hèn nhát hoặc vô dụng, vì có một vài phần tử quan quyền đào ngũ chạy theo Mỹ. Sự thật, quân đội VNCH rất vững mạnh và chiến đấu dũng cảm khắp các mặt trận, đặc biệt là từ mùa hè đỏ lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định và An Lộc. Đó là một quân đội xứng đáng được biết ơn, ca tụng vì đã giữ được từng mảnh đất quê hương, trước cuộc xâm lăng của CS quốc tế, trong nhiều năm quạ Và cuối cùng vào những tuần lễ chót của tháng tư, khi người Mỹ đã chấp nhận đầu hàng giặc, thì người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu khắp nơi, và mặt trận Xuân Lộc đã trở thành mồ chôn tập thể của những kẻ xâm lăng, bạo tàn. Nhờ vậy, một số người, VN lẫn Mỹ mới có cơ hội trốn chạy ra ngoại quốc, thoát được cảnh tù đầy địa ngục, chốn nhân gian cùng khốn tận tuyệt của cõi đời, khi rợ Hồ từ miền Bắc vào Nam làm chủ. Một số ít này, hiện nay, dù đã cuối đời nhưng vẫn không giữ nổi khí phách và danh phận của đấng trượng phu, tướng lãnh, trí thức, khi đã quay lưng phản bội dân tộc, bôi mặt hợp tác với giặc, đề dầy xéo thêm nỗi đau tận tuyệt của đồng bào mình trong suốt 30 năm quốc hận, đối lấy chút hư danh cặn thừa trong vũng bùn ô uế xã nghĩa. Đây là những hình nộm nói tiếng người, hằng ngày được VC bêu xấu trên báo chí, để miệng đời bôi bác rủa trù, chẳng những riêng chúng, mà lây xấu tới con cái dòng họ.

Tháng tư ở Long Khánh, trời thường đổ những cơn mưa rào như trút nước, nhiều lúc lính đang hành quân trong rừng, có cảm tưởng như mình đang lênh đênh bơi trong biển khổ của cuộc đời.

Và tháng tư năm 1975, trời hình như biết trước cơn bão táp của miền Nam, nên đổ mưa rất sớm. Trong mưa có gió, nên khiến cho cả thị xã Xuân Lộc, đỏ ối một màu vì xác hoa phượng vĩ ven đường, bị gió mưa dồn dập.

"... đêm nay Xuân Lộc, vầng trăng khuyết như một vành tang trắng đất trời chân theo quân rút, hồn ta ở nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi ...em ơi tiếng tắc kè thê thiết gọi giữa đêm dài quá lẽ loi chân bước, nửa hồn chinh chiến dục nửa hồn Xuân Lộc, gọi quay luị.". (thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương).

Xuân Lộc là chiếc nôi đầu đời, mà người lính Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43 Biệt Lập, của Đại uý Ngô Văn Diệp, từ miền xa cao nguyên Di Linh, tới hành quân và tru đóng vào giữa tháng 4-1964, coi như là đơn vị tiền phương thành lập Sư Đoàn 10 bộ binh vào ngày 16-5-1965, gồm ba Trung Đoàn biệt lập, kỳ cựu của quân lực VNCH là Trung Đoàn 43, 48 và 52.

Trung Đoàn 43 bô binh thoát thai từ Trung Đoàn 404 thành lập tại Phan Thiết ngày 1-8-1954, trước khi biệt lập, trực thuộc SD5 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ... tại Nam Phần vào năm 1955. Trung Đoàn 48 bộ binh thoát thai từ Trung Đoàn 203 bộ binh, gồm các tiểu đoàn 47, 702 và 52. Sau đó cải thành Trung đoàn 48 bộ binh, thuộc Sư Đoàn 16 khinh chiến, gồm các Trung Đoàn 46, 47 và 48. Năm 1958 qua đợt cải tổ, SD16 khinh chiến bị bãi bỏ, các Trung Đoàn 46,47 và 48 trở thành biệt lập. Sau này, Trung Đoàn 47 bô binh cùng với Trung Đoàn 43 qua nhiều lần hoán đổi đơn vị, để trực thuộc SD23 bộ binh, cuối cùng Trung Đoàn 46 thuộc SD25BB, Trung Đoàn 47 thuộc SD22 BB và Trung Đoàn 48 thuộc SD18 BB. Riêng Trung Đoàn 52 được thành lập ngày 1-12-1954 tại Đệ 1 Quân Khu, gồm các Tiểu Đoàn 54 BVN, 704 và 713. Về Trung Đoàn này, ngày 14-2-1968, tướng Wheeler, chủ tịch Liên quân Mỹ, khi trả lời với báo chí, trong cuộc điều trần trước Hạ Viện Mỹ, là sáng nay tướng Westmoreland có báo, là đã tới thăm Trung Đoàn 52 biệt lập, đóng ở phía nam Đà Nẳng, để chúc mừng và tưởng thưởng cho Họ vì đã chận đứng được Sư Đoàn 2 Bắc Việt, trong mưu toan chiếm Đà Nẳng, vào Tết Mậu Thân. Hai tiểu đoàn nổi tiếng nhất của SD18/BB là TD2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và TD1/52 của Đại Uý Nguyễn Văn Út, nhiều lần được vinh danh trước quân đội, vì thiện chiến và là đơn vị bắn cháy nhiều xe tăng của Bắc Việt tại trận địa. Năm 1974, hai chiếc T54 và PT76 của Bắc Việt, bị hai đơn vị trên bắn cháy, được kéo về làm kiểng trước sân Dinh Độc Lập, sau khi mất nước, mới bị VC phi tang.

Sư Đoàn 10 BB sau đổi thành SD18BB vào ngày 1-1-1967 qua đề nghị của Tư lệnh lúc đó là Chuẩn tướng Đổ Kế Giai. SĐ mang phù hiệu Nỏ Thần, đang lướt trên hai nền màu xanh da trời đậm và lợt, tượng trung cho bước chân của lính trong cõi mông mênh cùng tận, mà Nguyễn Cộng Trứ khi đề cập tới chí nam nhi, đã viết: "tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, làm cho bách thế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng". Từ năm 1965-1969 qua các tư lệnh như Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh (16/5/1965-10-8-1965), Chuẩn Tướng Lữ Lan (10/8/1965-15/9/1966), Đại Tá Đổ Kế Giai (15/9/66-20/8/69), trong giai đoạn này, Sư Đoàn 18BB bao vùng Khu 31 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, thuộc Vùng III Chiến Thuật. Từ ngày 20-8-1969 tới 4-4-1972, tư lệnh là Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, vì bị Quân Đoàn III, chia chặt thành từng mãnh, tăng phái khắp nơi, dưới quyền của các SD5 và 25 BB, nên binh sĩ có mặc cảm là đơn vị trừng giới, khiến cho SD18 BB, bị xếp hạng chót trong bảng xếp hạng đơn vị thuộc QLVNCH...

Cá sống nhờ nước, lính chiến đấu giỏi khi gặp được cấp chỉ huy tài ba, can trường, thương lính và trên hết phải biết lội với lính trước súng đạn... Ngày xưa, qua huyền thoại, điển tích và sách vở, ta biết giai nhân cùng danh sĩ, như có duyên nợ với nhau từ tiền kiếp. Dương Chí Hoán đời Đường, nổi danh nhờ một ca kỷ hát bài Lương Châu Từ của mình. Tô Đông Pha làm giúp một bài phú cho ca nhi Triệu Vân, mà lấy được một người vợ tài hoa ý hợp nhưng cảm động hơn hết, có lẽ là Giang Châu Tư Mã-Bạch Cư Dị (772-846), trong một đêm mưa rơi tầm tả, tiễn bạn trên Bến Tầm Dương, tình cờ gặp lại người ca kỷ năm nào nổi danh tài sắc chốn Trường An, qua một bản đàn tuyệt diệu, Danh Sĩ đã cảm hứng viết Trường Ca "Tỳ Bà Hành" cổ kim bất hủ.

Trong đời binh nghiệp cũng vậy, suốt cuộc chiến VN, những nguời lính nhảy dù, biệt kích, thủy quân lúc chiến, biệt động quân... được đồng bào miền nam thân thương quen gọi là các thiên thần, bởi vì hầu hết các đơn vị trên đã có nhiều cấp chỉ huy tài ba can trường. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa... luôn hòa mình với thuộc cấp của mình tại các tiền đồn hẻo lánh, bên những đơn vị nghĩa quân, cảnh sát dã chiến, xây dựng nông thôn và địa phương quân tại chiến trường. Nhờ vậy hai tỉnh Chương Thiện-Bình Thuận, bị CS quậy phá nhiều nhất, lại là hai địa phương an ninh hạnh phúc cho tới 30-4-1975. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) dù bị lịch sử phán xét thế nào cũng kệ nhưng rõ ràng nhất, ông là một cấp lãnh đạo can đảm, biết chia xẻ gian lao, máu lệ với người chiến sĩ đang lăn xả trong bom đạn sa trường nguy hiểm nhất, ngay lúc trận tuyến chưa im tiếng súng, tại Quảng Trị, KonTum, An Lộc, Bình Định... Tương tự, những người lính Nỏ Thần Miền Đất Đỏ, đã tao phùng-kỳ ngộ với một cấp chỉ huy năng động, thích hợp với những lính biệt lập 43, 48 và 52 đã từng bị đầy ải khắp mọi miền đất nước, đâu có khác gì các Đơn Vị Biệt Động Quân Biên Phòng, Biệt Lập, không biết ai là Cấp Chì Huy tối cao của mình. Đây cũng là một trong những yếu tố then chốt, đã vực dậy một Đại Đơn Vị sắp quỵ vì quá nản phiền. Nhờ đó mà SD18 BB từ đội đít, lần lần dọc ngang và cuối cùng, đứng ưỡn ngực với các Đơn Vị khác của Quân Lực trong bảng xếp hạng cuối đời.

Ngày 4-4-1972, Đại Tá Lê Minh Đảo làm Tư Lệnh SD18 BB, thế Thiếu Tướng Lâm Quang Thợ Gọi là Sư Đoàn Trưởng cho oai, chứ lúc đó quân số còn lại của SD18BB vỏn vẹn chỉ có Đ18 Trinh Sát, Đ48 Trinh Sát và 1 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 48BB. Tất cả lính của Sư Đoàn từ Thiết Đoàn 5 kỵ binh, Trung Đoàn 43, 48, 52 đều bị Quân Đoàn III xử dụng, tận góc biển chân mây, khiến cho Tư Lệnh SD18BB lúc đó, thật ra còn thua Tiểu Đoàn Trưởng, vì trong tay không còn một đơn vị nào thuộc về mình., để chỉ huy xử dụng.

Khởi sự từ con số không, Tướng Đảo, một sĩ quan thường bị cười nhạo là hành chánh vì quẩn quanh chỉ làm quận trưởng, tỉnh trưởng. Nhưng đó là một nhận xét có ác ý ganh tỵ, vì qua kinh nghiệm lịch sử cận đại VN, không thiếu gì những vị tá, tướng... một đời lăn xả ngoài trận mạc, vẫn không được đời xưng tụng là tài giỏi. Để chứng minh người thật việc thật, tri hành phải hợp nhất, qua việc hành sử lúc ban đầu, với số đơn vị ít ỏi trong tay, đã biết khôn khéo, cũng như bỏ cái quan niệm "lính chính quy-lính bảo an", trong việc phối hợp hành quân cùng các Đơn Vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Bình Định Xây Dựng Nông Thôn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến (Lúc đó toàn là chủ lực quân biệt phái hay thuyên chuyển về gần nhà)... tại các Tiểu Khu Long Khánh, Phước Tuy, nên chỉ một thời gian ngắn đã bình định xong vùng này. Rồi thì lần lượt Quân Đoàn III, trả lại các Trung Đoàn cơ hữu của SD18BB cho tướng Đảo. Lúc đó,Trung Đoàn 52BB, đang hành quân tại Bình Long, Trung Đoàn 48BB trách nhiệm giữ nhà, nên chỉ còn Trung Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, cùng tư lệnh là Đại Tá Đảo, xông pha hầu hết các miền đất dữ của VC lúc bấy giờ, dẹp tan chiến khu Chà Rầy, Trung Lập, Củ Chi để giải vây cho quận Trảng Bàng. Tiếp đến, Trung Đoàn 43 và Tướng Đảo lại vào Bến Súc, Dầu Tiếng, giải vây Đồn Điền Michelin, giữ được con đường huyết mạch từ Bình Dương-Bến Cát, mà trong trận Mùa hè đỏ lửa 72, quân tiếp viện của ta sử dụng để vào An Lộc.

Tới cuối tháng 6-1972, SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng, tuy vẫn giữ vững An Lộc nhưng đã bị tổn thất nặng nề, nên được điều động ra khỏi trận địa. Các đơn vị tăng phái của Vùng 4 CT như SD21BB, Trung Đoàn 15/SĐ9BB..cũng được trả về bản địa. Do trên, Quân Đoàn III, sau khi hoàn lại đủ quân số cho Tướng Đảo, đã điều động toàn bộ SD18BB vào An Lộc, phối hợp với Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Ngô Minh Hồng, chiếm lại toàn vẹn lãnh thổ Bình Long. Tháng 12-1972, sắp đến ngày ký Hiệp Định Paris, nên VC lại ồ ạt dành dân chiếm đất, vì vậy QDIII giao Bình Long-An Lộc cho Biệt Động Quân và sử dụng SD18BB như một đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn. Thời Trung Tướng Phạm Quốc Thuần thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh QDIII, ngày 7-11-1973 đã cho tái lập lại Lực Lượng 3 Xung Kích, trước sau vẫn do Chuẩn Tướng Kỵ Binh Trần Quang Khôi, là một trong những tướng lãnh tài ba, anh hùng của QLVNCH chỉ huỵ Đại đơn vị này có bảng cấp số tương đương với một sư đoàn bộ binh nhưng về hỏa lực có phần hùng mạnh hơn vì được phối hợp tác chiến giữa bộ, thiết giáp và pháo binh, gồm 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp 315,318 và 322. Các Chiến Đoàn đều tổ chức giống nhau, gồm 1 Tiểu Đoàn BDQ, 2 Chi Đoàn Thiết Vận Xa 113, 1 Chi Đoàn Chiến Xa M48, 1 pháo đội cơ động 105 ly gắn trên xe M548 và 1 Trung Đội Công Binh. Đây là đơn vị trừ bị thứ 2 của QDIII, sau ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973. Từ đó chiến cuộc càng ngày càng tàn khốc, Bắc Việt ngoài số bộ đội có sẵn được Mỹ cho ở lại, còn có nhiều sư đoàn khác cũng ào ạt vào Nam, vì đường mòn Hồ Chí Minh coi như đã bị bỏ ngõ, tấn công khắp mọi nơi nhưng dữ nhất vẫn là những địa danh sát nách Saigon như Định Quán, Củ Chi, Tam Giác Sắt, Phước Tuỵ.. hầu hết những vùng trên đều thuộc trách nhiệm của SD18BB. Tóm lại, từ năm 1972 tới đầu năm 1975, SD18BB dưới quyền của Tướng Lê Minh Đảo, gần như xông pha trăm trận, nên đã hy sinh rất nhiều quân nhân các cấp. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đã trưởng thành trong khói lửa, quân kỳ của Sư Đoàn được gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang giây biểu dương màu quân công bội tinh, nhờ niềm hãnh diện đó, dân và lính miền đất đỏ, đã đánh một trận cuối cùng với giặc tại Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân-Nước, vừa lưu danh ngàn đời trong Việt Sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ Nga-Tàu về.

Tháng 4-1974, Thượng Viện Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho Nam VN. Tại chiến trường, Bắc Việt xé bỏ hiệp ước vừa ký tại Ba Lê năm 1973, tấn chiếm Thường Đức và Trại Tống Lê Chân. Ngày 9-8-1974, Nixon từ chức tổng thống vì vụ Watergate mang theo hẹn hứa giúp VNCH xuống mồ, vì Ford lên thay không bao giờ đếm xỉa tới., hoặc có muốn giúp miền Nam, thì nói cũng chẳng ai nghe, vì ông không phải là vị tổng thống do dân bầu lên theo luật định.

Trước tình hình hỗn độn chính trị tại Mỹ, Bắc Việt tấn công và chiếm tỉnh Phước Long nhưng Hoa Kỳ vẫn im lặng, còn Ford theo B.Paulmer trong "The 25 th year war" năm 1984, đã tuyên bố là Hoa Kỳ dứt khoát không can thiệp vào chiến tranh VN. Thế là Hà Nội hồ hởi xâm lăng Miền Nam. Ngày 10-3-1975 đánh thành phố Ban Mê Thuột. Ngày 14-3-1975 rút bỏ cao nguyên bằng Liên tỉnh lộ 7, Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên. Ngày 20-3-1975 bỏ Huế, Quảng Trị. Nói chung hai cuộc lui quân, làm hàng trăm ngàn đồng bào vô tội, gia đình binh sĩ, chết và bị thương thảm thiết vì hỏa lực của CS, bắn nhắm vào những người dân lánh nạn, trong đó phần lớn là người già, đàn bà, trẻ thơ vô tội. Tổng thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên... chỉ một phút quyết định ngắn ngủi tại Cam Ranh đã làm mất 2/3 lãnh thổ, hủy diệt một nửa lực lượng quân lực tinh nhuệ của VNCH, trong đó có các Đại đơn vị ưu tú như SD Dù, Thủy Quân Lục Chiến, SD1, 23 BB và các Liên Đoàn BDQ... Như vậy sau ngày 2-4-1975, Quân Đoàn 1 mất hẳn, QD2 chỉ còn Ninh Thuận-Bình Thuận, nên sát nhập vào Quân Đoàn IIỊ Phan Rang-Phan Thiết và Xuân Lộc, trở thành vùng hỏa tuyến, vì là cửa ngỏ ( quốc lộ 1 - 20), để Bắc Việt vào Saigon.

Để tấn công Long Khánh -Xuân Lộc, CS quốc tế Bắc Việt, tung vào chiến trường Quân Đoàn 4, gồm 3 Sư Đoàn 6, 7 và 341 và Sư Đoàn 7 VC, do tướng Bắc Việt là Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiệp chỉ huỵ Về VNCH, ngoài SD 18 BB với các Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Thiết Đoàn 5 của Trung Tá Nguyễn văn Nô, Tiểu Khu Long Khánh của Đại Tá Phạm văn Phúc và các Đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Ta Nguyễn văn Đỉnh, đặc biệt là Tiểu Đoàn 82 BDQ, thuộc LD24BDQ, của Thiếu Tá Vương Mộng Long, từ Quảng Đức, Lâm Đồng di tản về Xuân Lộc... cùng với các SD 3, 4 và 5 Không Quân, kể luôn các đơn vị Truyền Tin, Công Binh, đã đánh với quân xâm lăng CS quốc tế, một trận để đời, như các trận Chí Lăng, Bạch Đằng, Chương Dương, Xuân Kỷ Dậu, Rạch Gầm Xoài Mút, mà tổ tiên ta đã lưu lại nghìn đời muôn kiếp cho con cháu sau này, trong dòng sử Việt...

Ngày nay đọc những trang sử trong cũng như ngoài nước, từ người thương cho đến kẻ thù VC, kể cả bọn ăn cơm quốc gia thờ Hồ tặc, tất cả đều hớn hở hoặc cúi mặt, kính chào và ngưỡng mộ, cuộc chiến đấu thần thánh của người lính VNCH, trong lúc đất nước đã tận tuyệt, gần hết cấp lãnh đạo tối cao cõng vợ con và vàng bạc chạy theo Mỹ để cầu sinh, giữ chức. Giữa giờ thứ 25, trong lúc bên ngoài thì Đồng Minh phản bội, bên trong đầy rẫy bọn trí thức, cha-sư, đầu hàng giặc Cộng, toa rập trù dập và đâm sau lưng người lính trí mạng.

Trong " Đại thắng mùa xuân", Văn Tiến Dũng, tổng tư lệnh bộ đội cọng sản Bắc Việt, đã thú nhận rằng " Mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và đẫm máu ngay từ ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6,7,341 của ta, dù đã tấn công nhiều lần vào thành phố Xuân Lộc, nhưng nhiều lần đều gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Trung Đoàn 43 địch, nên bị tổn thất nặng nề...

... Các đơn vị pháo của ta, đã sử dụng nhiều hơn cơ số đạn dược dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép bị bắn cháy, còn D.Tođ người ký giả Pháp thân cộng, trong tác phẩm " Cruel April, the fall of Sai Gon", đã viết " tinh thần binh sĩ tại Xuân Lộc rất cao, hệ thống truyền tin rất tốt, các đơn vị Dù và BDQ đã đến, đường Saigon được thông. Các Sĩ quan QLVNCH đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác và nhanh chóng. Tình trạng chiến đấu của họ, gần giống như lúc còn quân đội Mỹ yểm trợ.

Như vậy qua hai lời phê phán trên, ta biết mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và tinh thần chiến đấu của người lính VNCH dũng mãnh phi thường. Được như vậy, trước hết theo lời của tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 BB cũng là Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh - Xuân Lộc từ ngày 8-4-1975 tới ngày 20-4-1975, đó là tinh thần của người lính quyết tâm chiến đấu tới cùng vì từ trên xuống dưới không một ai đào ngũ hay bỏ theo giặc. Thứ hai do ta chủ động trận địa và sau rốt là tinh thần binh sĩ ổn định, khi thấy gia đình mình đã được di tản về hậu phương an toàn tại Biên Hòa.


3. Chiến trường Xuân Lộc

Chiến trường Xuân Lộc gồm 3 mặt trận chính : Mặt trận Ngã ba Túc Trưng, thành phố Xuân Lộc và Khu vực Núi Chứa Chan-Gia Ray. Do nắm được tình hình chính sự, biết chắc khi Phan Thiết-Lâm Đồng thất thủ, Bắc Việt sẽ xuyên qua QL1 và 20 để về tấn chiếm Saigon. Do trên Xuân Lộc sẽ là chiến địa đẫm máu. Biết như vậy, cho nên tướng Đảo sớm chuẩn bị trận địa để chờ. Trườc hết, khuyến khích dân chúng có phương tiện, nên về lánh nạn binh lửa ở Biên Hoà hay Saigon. Đồng thời cho di chuyển trại gia binh, bệnh viện, thương bệnh binh cùng các phòng sở chuyên môn về hậu cứ tại Long Bình, làm một đầu cầu tiếp vận từ Trung ương tới Chiến trường. Tại Long Khánh, tướng Đảo cho sửa sang tất cả các phòng tuyến trong cũng như ngoài thị xã, đào giao thông hào khắp nơi, để chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Chiếm lại tất cả các vị trí cao quanh Xuân Lộc, để quan sát địch từ mọi hướng. Đem tất cả pháo dấu trong các vị trí đào sẵn, một số câu lên núi Thị và giao cho TD2/43 cuả Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế bảo vệ, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Khu Long Khánh và 2 khẩu khác cho Chiến Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, trong thị xã Xuân Lộc sử dụng mà thôi. Lại đặt ba bộ chỉ huy Sư Đoàn, một tại Xuân Lộc, một tại Tân Phong và một trên núi Thị có TD2/43 bảo vệ. Tất cả các Bộ Tư Lệnh Hành Quân, đều giống nhau, được thiết kế đầy đủ máy móc truyền tin kể cả đài siêu tầng số. Trong số này, BTL/HQ trên núi Thị giao cho Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43 trách nhiêm, như một đài liên lạc giữa Tướng Đảo và Quân Đoàn cũng như các cấp tại Trung Ương, nhờ máy móc siêu tần đặt trên núi cao nên rất mạnh. Ngoài ra, nhờ có ba BTL/HQ nên tướng Đảo để di chuyển liên tục, tránh phao địch. Về Truyền Tin của Ta cũng rất tài giỏi, nhờ thế nên đã bắt và giải mã được tần số của giặc, gần như biết trước lệnh tấn công của các đơn vị Bắc Việt, nên đã tránh được rất nhiều tổn thất. Riêng bộ tham mưu của SD18BB lúc đó gồm có : Tướng Lê Minh Đảo là tư lệnh SD, Đại Tá Lê Xuân Mai tư lệnh phó, Đại Tá Huỳnh Thao Lược - tham mưu trường SD, Đại Tá Hứa Yến Lến - tham mưu phó hành quân tiếp vận và Đại Tá Dương Phun Sang - chánh thanh tra SD.

Theo tất cả các cấp chỉ huy thuộc SD18BB còn sống, hiện đang ở Mỹ, hầu hết ai cũng xác nhận một sự thật rất quan trọng, đó là khi quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Xuân Lộc, thì Tướng Lê Minh Đảo đang có mặt tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SD18BB tại căn cứ Long Bình và chỉ một vài giờ sau đã bay vào biển máu bom đạn và xác người tại trận địa Xuân Lộc. Trong lúc đó, đại úy Nguyễn Khiêm, trưởng ban ba của TrD43/18 vì công vụ cũng có mặt tại Long Bình và chính Tướng Đảo đã ra lệnh cho phi công chiếc C&C của TL, chở ông ta vào BTL/HQ tại Tân Phong.

Bốn ngày đầu chưa có Lữ Đoàn 1 Dù tăng viện nhưng Chiến Đoàn 43 và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân thiện chiến của TK Long Khánh, cùng TD82 BDQ vẫn giữ được Xuân Lộc. Từ ngày 12/4/75, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Đỉnh tăng viện, đảm trách mặt trận Gia Ray-Chứa Chan, nên tướng Đảo đả dùng Trung Đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 kỵ binh, làm lực lượng tiếp ứng khắp nơi. Cũng theo tướng Đảo, trong trận Long Khánh, chỉ có cứ điểm Ngã Ba Túc Trưng, do Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ, là khó khăn và ác hiểm nhất nhưng quân ta dù lực lượng ít ỏi so với quân biển người của Bắc Việt, vẩn anh dũng chống cự. Oanh liệt nhất là trận Đồi Móng Ngựa, chỉ có hai đại đội của TD3/52 do Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tức nhà văn nổi tiếng Ý Yên làm Tiểu Đoàn Trưởng, đã giữ vững vị trí từ ngày 10-4 tới 15-4-75, qua nhiều đợt tấn công biển người, cấp Trung Đoàn của SD6 Bắc Việt. Trận tử chiến trên Đồi Móng Ngựa cũng như hai trái bom con heo tại Dầu Giây -Túc Trưng, đều là những huyền thoại đẹp nhất trên những trang cận sử vừa nở hoa vừa loang đỏ máu, mà sau này mỗi khi đọc tới, chắc ai cũng không thể ngăn nổi giọt nước mắt muộn màng, để khóc tủi cho những người lính trận năm nào, đã vì ai mà xả thân không tiếc hận.

Đánh mãi không lấy được Xuân Lộc, Văn Tiến Dũng điều động Trần văn Trà thay Hoàng Cầm nhưng chiến trường vẫn không thay đổi. Do trên Trà một mặt để SD7 VC ở lại cầm chân SD18 BB và Dù tại Xuân Lộc, mặt khác tấn công biển người vào các vị trí của Chiến Đoàn 52, mở một đường máu từ Túc Trưng xuyên qua Biên Hòa, đối mặt với các Đơn Vị phòng thủ của Lực Lượng 3 Xung Kích, của tướng Trần Quang Khôi. Riêng Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Dũng, tuy bị tổn thất gần 1/2 quân số, nhưng cuối cùng vẩn mở được đường máu Từ ngã ba Túc Trưng về Biên Hòa.


4. Hai trái bom Daisy Cutter và cuộc lui quân của SD18

Trong "Đứa con cầu tự ", ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Thiếu tướng QLVNCH, cựu tư lệnh Không quân, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH từ 1967-1971, có viết rằng chính ông ta là nhân vật đã ra lệnh sử dụng bom con heo tại mặt trận Xuân Lộc. Ai cũng biết từ sau năm 1972, ông Kỳ đã là một tướng lãnh bị phế thải, ngồi chơi xơi nước, trong tay "không quân, không đơn vị". Cũng từ đó cho tới ngày 29-4-1975 bay trốn ra biển để tới Mỹ hưởng vinh hoa phú quý, tướng Kỳ ngoài việc trồng khoai mì tại đồn điền riêng ở Khánh Dương-Khánh Hòa, thì gần hết thời gian quý báu còn lại của một tướng lãnh, chỉ lăn vùi trong rượu chè, mạt chược, đá gà và bar-bung gái vợ. Như vậy, sức nào để ra lệnh cho KQ đánh bom, một sự kiện quan trọng bậc nhất của an ninh quốc phòng quốc gia VNCH, lúc đó chỉ có chính Tổng Thống, Thủ Tướng và Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH mới có thẩm quyền quyết định.

Bom Daisy Cutter, còn được gọi là bom con heo hay tiểu nguyên tử, có chiều dài và chiều cao gần tương đương với lòng chiếc vận tải cơ C130, trọng lượng là 7 tấn, gồm vỏ bọc và khối thuốc nổ 15.000 cân Anh TNT. Bom dùng mở bãi đáp cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào. Với con người, bom có tầm sát hại trong vòng bán kính 5 dặm Anh, hút hết dưỡng khí, làm cho người bị chết ngạt. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Mỹ có để lại cho VNCH chừng 10 trái nhưng không có ngòi nổ. Trong trận Xuân Lộc, truyền tin của Bắc Việt gần như bị ta giải mả hết, nên nhờ đó mà Bộ tư lệnh của SD18BB đều biết trước. Nhờ vậy đã kịp thời xin không quân hay pháo binh, bắn hay giội bom vào các vị trí của địch hay xe tăng một cách vô cùng chính xác. Ngày 15-4-75, khi tướng Đảo nhận tin vị trí của Chiến đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, từ Ngã ba Túc Trưng xuống tới Dầu Giây, bị hai sư đoàn Bắc Việt 6 và 341 tràn ngập, nên đã xin tướng Nguyễn văn Toàn, tư lệnh QD3, trình Bộ TTM, sử dụng bom con heo, để ngăn chận và giải cứu Chiến đoàn 52. Do trên, trong ngày 15-4-1975, Bộ TTM đã dùng vận tải cơ C130A thả 2 trái bom khổng lồ này, xuống vị trí của Bắc Việt, từ Túc Trưng về tới Dầu Giây, khiến cả một quân đoàn Bắc Việt, gồm người, tăng, pháo như rối loạn trong ba ngày liền vì có quá nhiều thương vong. Vì Hà Nội la làng, Mỹ vi phạm hiệp định ngưng bắn, dùng bom nguyên tử và trở lại VN, nên Hoa Kỳ đã chở số bom con heo còn lại về Mỹ.

Ngày 16-4-1975, phòng tuyến tại Phan Rang vở, các tướng lãnh Nguyễn Vĩnh Nghi, Pham Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương và hầu hết các sĩ quan cao cấp trong Bộ tư lệnh tiền phương của QD3, vì đi bộ với lính (dù có máy bay), và Đại Tá Lương, lúc đó đã cùng với các tiểu đoàn Dù về tới Cà Ná, nhưng ông cũng đã trở lại tìm hai tướng Nghi-Sang, nên đã bị giặc Cộng bắt giữa chốn ba quân. May mắn nhất vẫn là tướng Trần văn Nhựt, Tư lệnh SD2 BB đang tham chiến tại mặt trận, nhờ lanh lẹ, nên leo L19, chạy kịp xuống tàu hải quân, đậu trong vịnh Ninh Chữ, sau đo cũng là một trong nhiều tướng lãnh tới Mỹ sớm. Đêm 19-4-1975, Bình Thuận-Phan Thiết mất và Bình Tuy ngày 20-4-1975. Như vậy các tuyến phòng thủ trên QL1 và 20, dẫn về Long Khánh gần như khai thông. Tướng Nguyễn Văn Toàn vì không muốn Xuân Lộc, lúc đó lại trở thành một Điện Biên Phủ hay Khe Sanh, giữa trùng vây của hơn mấy vạn quân Bắc Việt như trước. Hơn nữa, khi Trần Văn Trà thế Hoàng Cầm, đã dùng SD7 Bắc Việt cầm chân quân ta, còn Lộ quân 4 thì tìm đường khác tại Ngã ba Túc Trưng về Biên Hoà. Ở đó, chỉ có Lực lượng 3 Xung Kích của tướng Khôi, cùng Trung Đoàn 8 /SD5BB tăng phái, nên không đủ quân chống giữa. Do trên tướng Toàn đã xin Bộ Tổng Tham Mưu, chấp thuận bỏ Xuân Lộc, rút toàn bộ lực lượng đang chiến đấu tại đây gồm SD18BB, TK Long Khánh, Lữ Đoàn Dù, BDQ về Phước Tuy, giữ Biên Hòa-Saigon, và đã được chấp thuận, dù lúc đó, quân ta còn đầy đủ đạn pháo và tinh thần chiến đấu. Tại Gia Ray-Chứa Chan, Lữ Đoàn Dù-BDQ-Thiết Đoàn 5 và Trung Đoàn 48/18 đang gom SD7 Bắc Việt vào rọ, để tiêu diệt.

Theo tướng Đảo, thì vào lúc 9 giờ sáng ngày 20-4-1975, tướng Toàn thân hành bay trực thăng vào BTL.SD18BB tại chiến trường Xuân Lộc, ban lệnh RÚT QUÂN, BỎ LONG KHÁNH của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tới Tướng Đảo và CUỘC RÚT QUÂN hoàn toàn bằng đường bộ, không có ai được máy bay tới chở về. Quan trọng hơn hết, tất cả đều đi, không có 600 quân nào của Trung Đoàn 43, do Đại Tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại bán mạng, như một vài người đả vin vào tài liệu Mỹ, viết sử. Cảm động vô cùng, là khi Lữ Đoàn 1 Dù của Đại Tá Đỉnh rút quân, đồng bào công giáo ở các xã Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa... đã đồng loạt rút theo, làm cho cánh quân này vì phải bảo vệ đồng nào tị nạn, nên bị thiệt hại nhiều nhất.

Ngay khi nhận được lệnh, trong ngày 20-4-1975, tướng Đảo ra lệnh cho Lữ Đoàn 1 Dù, tấn công tới tấp SD7 VC để nghi binh. Trên núi Thị, rút hết pháo, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Đoàn 2/43 bắn cầm chừng, làm giặc không biết đâu mà mò. Cuộc lui quân, bắt đầu, lúc 8 giờ đêm 20-4-1975, bằng Liên Tỉnh lộ 2, Tân Phong-Long Giao-Bà Rịa. Đây cũng là một quyết định táo bạo, đồng thời cũng là một yếu tố bất ngờ mà Bắc Việt không bao giờ đoán nổi. Vì Liên tỉnh lộ 2 dài khỏng 40 km, từ khi quân Đồng Minh rút, đường đã bị bỏ hoang và trở thành căn cứ địa cuả các lực lượng Du kích tỉnh cũng như Trung Đoàn 33 chính quy Bắc Việt. Theo kế hoạch lui quân, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công mở đường. Cánh 2 là đoàn cơ giới, pháo, chiến xa Thiết đoàn 5 của Trung Tá Nộ Đặc biệt tướng Đảo, đã mang trả lại cho QD3 hai khẩu đại pháo 175 ly cho mượn, có tầm bắn xa trên 30 km, đặt trên xe xích. Tất cả lực lượng này do Đại Tá Hứa Yến Lến, tham mưu phó hành quân SD 18BB chỉ huỵ Đơn vị kế tiếp là DPQ và NQ Long Khánh của Đại Tá BDQ. Phạm văn Phúc, Tỉnh trưởng Long Khánh. Cánh quân này, trong lúc rút bị đụng nặng, làm Trung Tá Tiểu Khu Phó tử thương. Còn Đại Tá Phúc bị bắt và giải ngay ra Bắc, chịu nhiều năm tù khôc hận như các cấp Sĩ quan/QLVNCH sau ngày 30-4-1975. Tướng Đảo đi bộ với cánh quân Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, hiện ở Oregon. Và cuối cùng là Lữ Đoàn 1 Dù đoạn hậu. Theo kế hoạch lui quân, Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Chế từ Núi Thị xuống sẽ đi trước Lữ Đoàn Dù, nhưng vì trục trặc chiến thuật, nên cuối cùng lại trở thành đơn vị cuối khi rời Long Khánh. Tóm lại cuộc lui quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế hoạch và trên hết, chính tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm văn Phúc, Đại tá Đỉnh, Lữ Đoàn trưởng Dù... đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được chiến thắng ?


5. Người về từ địa ngục

Tiểu Đoàn Trưởng TD2/Trung Đoàn 43/SD18BB là Nguyễn Hữu Chế, xuất thân từ khóa 13, sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Từ năm 1972 khi Đại Tá Đảo, về làm tư lệnh SD18BB, thay tướng Thơ, lúc đó Trung Úy Nguyễn Hữu Chế ở TD2/43 nhưng sau những chiến công rền vang khắp các mặt trận từ Chà Rầy-Trung Lập, tới Tam Giác Sắt - An Điềm, chỉ trong 1 năm, đã được vinh thăng ngay tại mặt trận, Đại Uý rồi Thiếu Tá và giữ TDT.TD2/43 là một đơn vị cùng với TD1/52 của Đại Uý Út, là hai đơn vị kiệt hiệt nhất của SD18BB.

Theo lời Thiếu Tá Chế, thì trong đêm lui quân 20-4-1975, lệnh hành quân ghi rõ: kể từ 12 giờ đêm, TD2/43 sẽ trở về hệ thống liên lạc của sư đoàn. Tiểu đoàn sẽ di chuyẻn trước, sau đó là Lữ Đoàn 1 Dù, theo lộ trình về hướng Đức Thanh-Bà Rịa. Lệnh là vậy nhưng thực tế vô cùng khó khăn, vì khi Lữ Đoàn 1 Dù, cho lệnh TD2/43 trở về với hệ thống của sư đoàn 18BB, thì lúc đó đã 3 giờ sáng. Tiểu đoàn liền cho lệnh gom quân các tiền đồn về, trong đó có Trung Đội Biệt Kích hoạt động tận núi Ma, cho nên tới 5 giờ sáng mơi hoàn tất việc thu quân. Vì vậy khi xuống núi Thị, thì trời đã rạng đông. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển theo lộ trình rút quân, gần tới Căn cứ Long Giao, lúc đó đã 7 giờ sáng, thì Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng TrD52/18, bay trên chiếc C&C của Tư Lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho TD2/43 phải hủy bỏ lộ trình cũ như lệnh hành quân ban đầu và phải băng rừng, chuyển hướng về Long Thành, vì Bắc Việt đã phát giác SD18BB lui quân, mà đơn vị cuối cùng là TD2/43 nên ra lệnh cho SD7 VC phải truy sát cho tận tuyệt. Thật ra, lúc đó cũng còn một vài toán Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, lạc đàn chạy theo. Nhưng trong tình cảnh hiểm nguy đó, làm sao biết được ai là bạn hay thù, hoặc có thể VC đã theo kíp họ, nên TD 2/43 đã tìm cách đổi hương, để giữ mạng.

Khi rời núi Thị, quân số của TD2/43, kể cả tăng phái trong đó có nhiều SQ, HSQ, và binh sĩ Pháo Binh, hơn 600 người. Ngoài Hậu cứ của TD2/43 đã di chuyển trước với cánh quân của Trung Đoàn, Bộ Chỉ Huy TD ngoài TDT Chế, còn có TDP là Đại Uý Nguyễn Tấn Chi (Khóa 12 SQTB/TD), Trung Úy Võ Kim Thạch (ĐT/ĐCH), Trung Uý Nguyễn Văn Hào (ĐT/Đ1), Trung Uý Võ Văn Mười (ĐT/Đ2), Trung Uý Nguyễn Văn Hùng (ĐT/Đ3), Trung Uý Hà Văn Dương (ĐT/Đ4) cùng các Sĩ quan truyền tin, ban 2, ban 3, quân y, sĩ quan tiền sát viên pháo binh...

Nhưng sau lần liên lạc được với Đại Tá Dũng, TD2/43 coi như lạc lõng trong rừng sâu từ giây phút đó. Vùng này bốn bề xưa nay đầy rẩy các căn cứ CS trong đó có mật khu Hắc Dịch nổi tiếng, đang có sự hiện diện của SD341 Bắc Việt tân lập. Từ đó, TD2/43 không còn ai liên lạc, chẳng có pháo binh, không quân hay thiết kỵ nào yểm trợ, vì mọi đơn vị bạn đều cách xạ Nhưng cũng may, từ khi được thành lập tại Phan Rí, tỉnh Bình Thuận vào năm 1955, qua danh xưng TD265, 84 sau đó là TD2/43 biệt lập cho tới ngày nay. Hầu hết các vị Tiểu Đoàn Trưởng như Đại Uý Nguyễn Văn Hai,...

2007-11-18 16:26:35


Trận Chiến Xuân Lộc
Hồ Ðinh


Thế rồi vào lúc 5 giờ 30 ngày 9 tháng 4/1975, khi vạn vật bắt đầu một ngày mới, chim chóc rời tổ kiếm ăn, dân chúng dọn hàng ra chợ, các tín đồ Thiên Chúa Giáo đi xem lễ sớm tại các nhà thờ, các loa phóng thanh của Ty Thông Tin Xuân Lộc mở đầu bằng các bài hát trữ tình thương lính... thì cũng là lúc Bắc Việt bắn hàng trăm ngàn loại pháo đũ loại vào thành phố, đa số rớt vào chợ, nhà thờ và các nhà của dân chúng khiến cho người dân vô tội chết và bị thương như rạ. Trận pháo kích kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ với hơn 3,000 trái đạn liên tục không dứt, dân chúng người thì ngã gục, kẻ thì rụng rời không biết chạy đâu để trốn tránh tử thần. ám giờ... bộ đội Bắc Việt tấn công vào thành phố nhưng bị chận lại bởi Trung Ðoàn 43 Bộ Binh và Tiểu Ðoàn 3/4 Ðịa Phương Quân Long Khánh. Quân Bắc Việt rút lui, bỏ lại tại chỗ 100 tử thi. Nhiều xe tăng T-54 và thiết vận xa PT-76 bị hạ khắp nơi bởi các hỏa tiễn M-72 và các phản lực cơ A-37 cùng F-5 của Không Quân VNCH.

Ngày 10 tháng 4/1975, Cộng quân trở lại tấn công Xuân Lộc với 2 Sư Ðoàn 6 và 7, cùng các trung đoàn thiết giáp trên khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc thành phố từ tòa thị chánh Long Khánh đến sân bay, nơi nào Cộng quân cũng sử dụng quân số cấp trung Ðoàn. Cuộc chiến kéo dài trong nhiều ngày, cả hai phía giành giật từng ngôi nhà, phòng tuyến để sống. Không Quân VNCH yểm trợ tích cực và hữu hiệu cho các đơn vị dưới đất bằng các phản lực cơ F-5E, góp phần tiêu diệt số lớn Cộng quân. Trung Ðoàn 43 Bộ Binh mặc dù bị Cộng quân cắt ra từng đơn vị nhỏ, nhưng vẫn tiếp tục chống trã mãnh liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, như Văn Tiến Dũng đã xác nhận trong tác phẩm Mùa Xuân Đại Thắng sau này.
Qua đến ngày thứ tư của cuộc chiến, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù gồm các tiểu Ðoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh Dù mới từ miền Trung về, được lệnh tăng cường cho Xuân Lộc. Tất cả trực thăng của hai trung Ðoàn 3 và 4 Không Quân với hàng trăm trực thăng UH-1 đã thả hơn 2,000 binh sĩ Nhảy Dù từ Trảng Bom vào trận địa. Các pháo đội cũng được trực thăng Chinook chuyển vận đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân Nhảy Dù đóng cạnh bên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.

Hai tiểu đoàn Dù đầu tiên đã nhảy xuống đồn địch để chiếm lại Bảo Định và Quốc Lộ 1, nơi 2 trung đoàn thuộc Công Trường 6 Cộng Sản Bắc Việt đang tập trung tấn công Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 VNCH tại Tân Phong. Một tiểu đoàn Dù khác nhảy xuống chiếm lại khu vực vườn cây của cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ. Các tiểu đoàn Nhảy Dù khác nhảy vào Xuân Lộc để giải vây cho các lực lượng Ðịa Phương Quân và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh.

Tại ngã ba Dầu Giây, Cộng Sản Bắc Việt đã đồng loạt tấn công Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh từ ngày 12 tháng 4/1975 bằng các trận đánh biển người, kèm theo xe tăng và pháo. Lần lượt các tiền đồn của Trung Ðoàn 52 Bộ Binh từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu trên Quốc Lộ 20 bị tràn ngập. Một trận chiến ác liệt và đẫm máu đã xảy ra chiều ngày 15 tháng 4/1975 ngay tại xã Dầu Giây (ở ngã ba giao điểm của Quốc Lộ 1 và 20) giữa Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh (gồm Trung Ðoàn 52, Lữ Ðoàn 3 Thiết Kỵ, các lực lượng Ðịa Phương Quân ở Kiệm Tân, tổng cộng khoảng 2,000 người) và Binh Ðoàn 4 Cộng Sản Bắc Việt (trong đó có Sư Ðoàn 341, một sư đoàn tổng trừ bị của Hà Nội vừa từ Thanh Hóa vào), do Trần Văn Trà thay thế Hoàng cầm chỉ huy.

Trong trận này, bộ đội Bắc Việt đánh trận biển người. Trong trận chiến nướng quân man rợ, tàn bạo và khủng khiếp này của Bắc Việt, mỗi một người lính VNCH đã phải chọi với 10 bộ đội Cộng Sản được yểm trợ bằng tăng và pháo. Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh cuối cùng đã tan hàng vào đêm 15 tháng 4/1975. Tất cả pháo binh, thiết giáp, người, đều bị Cộng Sản Bắc Việt hủy diệt sau mấy ngày đêm cầm cự. Chín giờ đêm đó, khi chiếc hầm chỉ huy của chiến Ðoàn bị bắn sập, đại tá chiến đoàn trưởng mới cho rút quân. Cùng theo ông chỉ còn 200 người sống sót.

2 TRÁI BOM "DAISY CUTTER" TẠI MẶT TRẬN NGÃ BA DẦU GIÂY

Trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Phạm Huấn sau ngày 30 tháng 4/1975, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Ðoàn 3 đã cho biết, sau khi trình Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH ông đã ra lệnh cho Không Quân sử dụng 2 trái bom "Daisy Cutter" tại ngã ba Dầu Giây trong đêm 15 tháng 4. Hai trái bom này được thả vào vùng tập trung của quân Bắc Việt ngay khi lúc Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh VNCH tan hàng. Gần 10,000 quân Bắc Việt với chiến xa T-54, đại pháo đang di chuyển trên Quốc Lộ 20 vừa tới ngã ba Dầu Giây đã bị hủy diệt toàn bộ.
Bom "Daisy Cutter" còn được gọi là bom "con heo" hay là bom "tiểu nguyên tử," trọng lượng 7 tấn vừa vỏ bọc, vừa thuốc nổ TNT đến 15,000 cân Anh. Bom Daisy Cutter dùng để mở bãi đáp phi cơ cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào và có hiệu quả sát hại trong một khoảng rộng với đường kính 5 dặm Anh.

Mười giờ sáng ngày 16 tháng 4/1975, Không Quân VNCH gọi về Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 báo cáo về rừng người, chiến xa, đại pháo Bắc Việt đang tập trung trong xã Dầu Giây để chuẩn bị tiến về Saigon. Mười một giờ cùng ngày, 2 chiếc vận tải cơ C-130 được lệnh mang 2 quả bom khổng lồ, xuất phát từ phi đạo 39 tại phi trường Tân Sơn Nhất, thả xuống vùng tập trung quân của quân Bắc Việt. Sau khi bom nổ, đại quân của Hà Nội đã rối loạn trong 3 ngày liền, và Bắc Việt la làng rằng Mỹ đã vi phạm Hiệp định Paris và cho B-52 trở lại chiến trường Việt Nam.

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA RÚT KHỎI LONG KHÁNH

Về việc rút khỏi Long Khánh, trong khi các đơn vị chiến đấu tại đây (ngoại trừ ngã ba Dầu Giây) vẫn còn giữ nguyên được các vị trí, cũng có nhiều nguồn tin. Theo lời đồn từ những kẻ thân cận làm việc trong Dinh Độc Lập thì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhận được tin các quân nhân tại Phan Ran đã uất ức trong cảnh gia đình ly tán, đất nước lâm nguy nên bất tuân thượng lệnh, dùng xe ủi đất và chiến xa M-113 san bằng mồ mả gia đình Tổng Thống Thiệu. Bởi vậy quá đau đớn, trước khi bỏ ngai vàng, ông đã cho rút khỏi Long Khánh để Bắc Việt mau vào Saigon thay thế ông, vì theo các thầy tướng số mà ông tin, thì nếu ông từ chức, Nam Việt Nam không ai có thể thay thế được, trừ Cộng Sản.

Nhưng theo lời Tướng Nguyễn Văn Toàn, thì chính ông ra lệnh rút bỏ Long khánh vì thấy rằng phòng tuyến này không còn giữ được nữa, hơn phân nữa quân CSBV, sau khi bị thiệt hại nặng nề, đã cho thay đổi kế hoạch tấn công Saigon bằng chiến dịch thứ nhì với với 5 sư đoàn đánh vào Biên Hòa, Phước Tuy, đồng loạt với 3 sư đoàn khác tại Tây Ninh. Vì vậy, Long Khánh không còn là điểm nóng, nên tất cả lực lượng tham chiến tại đây phải rút về Biên Hòa để lập phòng tuyến mới.

Trong cuộc rút quân này, Lữ Ðoàn Nhảy Dù bị thiệt thòi và chịu số phận bi đát nhất vì là đơn vị đi đoạn hậu. Họ phải chống trả với đại quân Cộng Sản Bắc Việt. Hai bên còn đang giao tranh ác liệt tại Bảo Định thì 7 giờ tối ngày 20 tháng 4/1975 có lệnh rút quân, trong khi các thương binh và tử thi lính VNCH chưa được di tản. Nhưng tất cả đành phải bỏ lại như năm nào tại Hạ Lào, bởi vì đối với người còn sống, đoạn đường đầy xác lính VNCH hơn 4 km trong rừng cao su đen nghịt để ra Quốc Lộ 1, là các cửa địa ngục phải vượt qua. Tất cả thảm trạng trên đều là những oan khiến bi thảm của người lính VNCH mà ít ai biết đến.

Chín giờ tối, các tiểu đoàn Nhảy Dù mới tới quốc lộ và một hoạt cảnh cảm động đã diễn ra, tất cả giáo dân của xóm đạo Bảo Đình, Bảo Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn 2 bên vệ đường để theo chân lính di tản. Mấy chục cây số đường rừng bị bỏ hoang trên Liên Tỉnh Lộ 2 từ Tân Phong đến Đức Thành, Long Lễ và Bà Rịa không phải là chuyện bình thường của một đoàn quân có dân chúng lẫn lộn. Bởi vậy ngay trong đêm rút quân 10 tháng 4/1975, Đại Tá Phạm Văn Phúc và Trung Tá Lê Quang Định, hai vị sĩ quan tiểu khu trưởng và tiểu khu phó của tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương vì nhiều loạt B-40 của CSBV bắn sả vào đoàn quân dân đang di chuyển. Lữ Ðoàn 1 Dù rút lui sau cùng, chỉ riêng Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh đươc di chuyển trên đường lộ với Ðại Ðội Trinh Sát Dù, các tiểu đoàn tác chiến đến mở đường bọc sâu trong rừng.

Bốn giờ sáng ngày 21 tháng 4/1975, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh-Phước Tuy, Tiểu Ðoàn 3 Dù bị 2 tiểu đoàn CSBV phục kích. Pháo Ðội C và trung đội trinh sát bảo vệ, hầu hết đều bị thương vong trước biển người tấn công. Cánh quân đi đầu của Tiểu Ðoàn 9 Dù cũng đụng độ nặng với CSBV tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Ngoài những thiệt hại kể trên, cuộc rút quân trên Liên Tỉnh Lộ 2 coi như hoàn tất, kết quả tốt đẹp. Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được chỉ định về phòng thủ tuyến phía Đông thủ đô Saigon từ Long Bình đến kho đạn thành Tuy Hạ, tiếp cận với các lực lượng của trường Bộ Binh Thủ Đức, trường Thiết Giáp và một lữ đoàn Dù có trách nhiệm bảo vệ Quốc Lộ 15 từ Long Thành về Bà Rịa. Tất cả chiến đấu với giặc cho tới khi Dương Văn Minh ra lệnh bỏ súng, tan hàng vào lúc 11 giờ 30 mới chấm dứt.

Chuẩn tướng Lê Minh Đảo và Bộ Chỉ Huy của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đóng bản doanh sát căn cứ Hải Quân ở Cát Lái. Ngày ngày nhìn thấy thiên hạ bỏ chạy bằng tàu thuyền, ông và các binh sĩ dưới quyền cũng có thể bỏ chạy dễ dàng như dân chúng. Nhưng họ đã ở lại và sau ngày 1 tháng 5/1975, cái giá mà Tướng Đảo phải trả là sự đày ải, hành hạ, chịu tủi nhục trong các trại tù từ Nam, Trung ra tận biên giới Việt Nam, Lào, Trung Hoa, cho đến thập niên 1990, ông vẫn còn bị Cộng Sản trả thù, hành hạ tại trại tù Z30D, Long Khánh


Sư Đoàn 18 Bộ Binh Vào An Lộc
Hồ Đinh TĐ1/TrĐ3/SĐ18BB KBC 4424
(Trích từ "An Lộc: Địa Ngục Trần Gian Của Quân Dân Miền Nam Trong Năm 1972")


Tính tới cuối tháng 5-1972, coi như SĐ18BB dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh Đảo, có Liên Đoàn 5 BĐQ tăng phái, đã thanh toán xong các mặt trận dữ ở Chà Rầy-Trung Lập (Củ Chí) - Dầu Tiếng (Bình Dương) và Đất Đỏ (Phước Tuy). Do trên, sư đoàn được lệnh vào An Lộc, từ ngày 22-6-1972, để thay thế cho Sư đoàn 5 BB bị thiệt hại nhiều, cần dưỡng quân và bổ sung quân số, sau bao nhiêu ngày tử chiến trong địa ngục trần gian. Cùng lúc các đơn vị tăng phái như SĐ21BB và Trung Đoàn 15/SĐ9BB cũng được trả về QĐ4. Như vậy, từ ngày 12-7-1972, toàn bộ SĐ với 3 Trung Doàn BB cơ hữu là 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, 48 của Trung Tá Trần Bá Thành và 52 của Trung Tá Ngô Kỳ Dũng. Ngoài ra còn có Liên Đoàn 5 BĐQ của Trung Tá Ngô Minh Hồng tăng phái, nhận lãnh trách nhiệm bao vùng toàn tỉnh Bình Long. Tuy tướng Lê Văn Hưng có tuyên bố là An Lộc đã được giải tỏa và ngay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cũng đặt chân vào chiến trường cÒn đang ngun ngút khói. Nhưng khắp nơi bom đạn vẫn mịt trời, vì vậy cuộc thay quân giữa hai sư đoàn 5 và 18, vẫn phải thực hiện bằng trực thăng vận. Ngày SĐ18BB vào An Lộc, con đường 13 huyết lộ, vẫn còn bị chốt kín nhiều nơi, mà nguy hiểm nhất vẫn là đoạn đường từ Chơn Thành tới Tàu Ô. Quanh thị xã, nhiều phần trên hai ngọn đồi chiên lược 169 và Đồi Gió, vẫn nằm trong tay quân Bắc Việt, nên ngày nào cũng bị pháo hằng trăm trái, làm thiệt mạng thêm nhiều người.

Để giải quyết tất cả những gai nhọn nhức nhối trên, Đại Tá Đảo quyết định để Trung Đoàn 52BB và LĐ5BDQ giữ An Lộc và tung Trung Đoàn 48/SĐ18BB của Trung Tá Trần Bá Thành, tái chiếm những phần còn lại, do cộng sản đang chiếm giữ, trên các ngọn đồi chiến lược quanh thị xã như Đồi Gió, 169 và E-2. Trung Đoàn 48BB ngay từ lúc còn biệt lập, dưới quyền chỉ huy tài ba, can trường của Trung Tá Trần Bá Thành, đã lập được rất nhiều chiến công hiển hách ở Phước Thành. Trung Tá Thành về sau thăng Đại tá, làm Tỉnh trưởng Bình Tuy và ông đã cùng với các Tiểu Đoàn ĐPQ tỉnh, tử thủ nhiều ngày tại LaGi, sau khi Phan Thiết mấy ngày 19-4-1975 và SĐ18BB ở Xuân Lộc được lệnh di tản chiến thuật về Phước Tuy. Ngày 27-7-1972, TĐ 1/48 và ĐĐ48 Trinh sát, đã làm chủ hoàn toàn Đồi 169 và Đồi Gió ngày 9-8-1972.

Riêng Trung Đoàn 43BB của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, từ khi vào An Lộc, cũng chịu rất nhiều tổn thất vì đạn pháo kích và những cuộc giao tranh đẳm máu, trong lúc cùng với giặc dành nhau từng đoạn đường sống trên quốc lộ 13. Tại Ấp Xa Cam phía nam An Lộc, Tiểu Đoàn 2/43 bị một lực lượng đông đảo của công trường 7 VC, tân công vây hãm, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Văn Thoại bị tử thương, nên TĐP là Đại Uý Nguyễn Hửu Chế thay thế và đưa được TĐ2/43 ra khỏi tử địa. Sau đó, TĐ2/43 và 3/43, cùng Liên Đoàn 5 BĐQ, được giao phó trách nhiệm tái chiếm phi trường Quản Lợi. Đây là một chiến trường cam go nguy hiểm, không khác gì cổ thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị. Phi trường Quản Lợi trước đây là căn cứ đóng quân của SĐ1 Không Kỵ Hoa Kỳ, nên được xây cất rất kiên cố. Ngày 10-8, TrĐ43 và LĐ5BDQ giải tỏa xong hương lộ 303 và tiến sát vào đầu cổng phi trường. Vì căn cứ được xây cất quá quo mô vững chắc, nên VC đã cố thủ trong các căn củ của LLĐB và chống trả thật mảnh liệt. Do đó các Trung Đoàn 43, 52 và LĐ5BDQ phải thay nhau tấn công giặc, với tổn thất rất cao, trong nhiều ngày nhưng cũng chỉ chiếm được một phần phi trường. Cuối cùng BTL/SĐ18BB quyết định dùng Không quân chiến thuật, với bom phá công sự và hỏa tiển TOW. Cuộc hành quân chấm dứt ngày 4-9-1972, tái chiếm lại được Quản Lợi, sau khi đã đánh đổi bằng nhiều sinh mạng, mà thiệt hại nhiều nhất là TĐ30BĐQ và TĐ2/43/SĐ18BB. Sau ngày 8-9-1972, Trung Đoàn 43 lại tiếp tục hành quân nhổ các chốt còn lại, trên đoạn đường từ Quản Lợi về An Lộc. Ngày 23-9-1972 là giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, khi Trung Đoàn 48/BB hành quân tảo thanh toàn bộ khu vực rộng lớn của đồn điền Quản Lợi, mở rộng vòng đai an ninh cho thị xã.

Nhiệm vụ hoàn thành, ngày 29-11-1972 các chiến sĩ của miền đông lại tiếp tục hành quân diệt địch khắp vùng chiến thuật, sau khi giao trách nhiệm trấn thủ An Lộc lại cho Liên Đoàn III Biệt Động Quân của Đại Tá Nguyễn Thành Chuân ( LĐ3, 5 và 6).



No comments:

Thời Sự "Nóng"





------------------------------------------

---------------------------------------------------------
Vân Anh -Ngày 1 tháng 10 Hà Nội Chính Thức Bán Nước Cho Bắc Kinh
----------------------------------------





There was an error in this gadget