Nhà Báo Việt Thường

Nhà Báo Việt Thường

Tìm kiếm bài Blog than huu cua Nha Bao Việt Thường xin gõ chữ vào đây

Loading...

Thursday, October 3, 2013

Kiều Tiến Dũng-Khoa Học Phương Tây và Triết Học Phương Đông



Khoa Học Phương Tây và Triết Học Phương Đông (Bài 1)
Kiều Tiến Dũng



Đừng trông chờ vào một thế lực bên ngoài nào — dù đó là nhân lực ngoại bang hay là thánh lực thần linh. Chỉ có ta mới có thể tự cứu lấy chính mình, chỉ có chúng ta mới có thể cứu được dân tộc mình.

Con người chỉ là một loài động vật. Nhưng lại là một loài động vật hơn hẳn tất cả các loài khác trên mặt đất này. Các loài thú thường thì có loài phải sống tập đoàn, có loài chỉ sống riêng lẻ, trừ những lúc cần gặp nhau để giao phối, rồi lại trở về cuộc sống riêng biệt. Loài người, trái lại, có thể sống quây quần bên nhau nhưng lại có những riêng tư –nhiều khi đó lại là những riêng tư không thể chia sẻ với ai được, sống để bụng chết mang theo:
Có những niềm riêng một đời dấu kín
Như rêu như rong đắm trong biển khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi

(Lê Tín Hương)
Đến ngay cả cái thú tính, con người cũng có thể nâng những bản năng đó lên trên cái nhu cầu tối thiểu. Nếu như thú vật chỉ giao cấu theo mùa khi bản năng di truyền nòi giống thôi thúc, thì loài người lại có thể biến đó thành những khoái lạc để tìm cách hưởng thụ bất cứ lúc nào tùy hứng. Tất cả các khác biệt đó có lẽ cũng là vì chúng ta là loài động vật duy nhất biết suy nghỉ về cái ta, về cái bản ngã của mình. Không một loài thú khác nào biết suy tư về cái sống và âu lo về cái chết của chính mình như con người.
Loài thú cũng học được cái nguyên lý là có nguyên nhân ắt phải có hậu quả: lửa nóng thì bị phỏng, mưa thì bị ướt, làm hề thì sẽ được cho ăn (như các con vật trong sở thú). Con người nhờ khả năng phân tích của mình nên đã đi xa hơn nữa, cố tìm cái gì đã gây ra cái nguyên nhân của cái nguyên nhân đó. Cái gì đã tạo lên lửa? Sấm sét. Vậy cái gì đã gây nên sấm sét? v.v. Cứ thế đi ngược dòng, tìm cái nguyên nhân của cái nguyên nhân của cái nguyên nhân. Cho đến lúc ta không thể giải thích được nữa với kiến thức và kinh nghiệm của mình thì tôn giáo bắt đầu xuất hiện. Tôn giáo cho ta lời giải đáp cho những thắc mắc không có đáp án. Lúc đầu là tôn giáo phiếm thần, ở dưới dạng của nhiều vị thần: thần lửa, thần nước, thần sấm sét, thần mưa, v.v. Hết các hiện tượng thiên nhiên rồi lại đến các vị thần để giải thích những biến động trong xã hội con người như thần chiến tranh, thần tình yêu, thần đói, thần khát, và dĩ nhiên luôn cả thần chết.
Dần dần khi phần lớn các hiện tượng được giải thích thỏa đáng thì chỉ còn một ông trời là lý do của các câu hỏi hiện thời ta chưa có giải đáp. Như: vũ trụ từ đâu tới? Sự sống và con người được sinh ra từ khi nào? Tuy nhiên, các tôn giáo nhất thần khác nhau lại thờ các đấng chí tôn khác nhau. Ngày nay trong các tôn giáo lớn có lẽ chỉ còn Ấn Độ Giáo và Thần Giáo của Nhật Bản (Shinto) còn là phiếm thần, thờ nhiều vị thần linh khác nhau.
Nhưng rồi tôn giáo lại không thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu tò mò, tìm hiểu của con người. Chẳng lẻ bất cứ điều gì ta cũng phải cần đến ông trời như một lời giải thích hay sao? Do đó các lý thuyết triết học được ra đời. Tương tự như toán học, triết học là bộ môn vận dụng lý luận chặt chẻ để đi từ các tiền đề cho đến các hệ quả. Nhưng khác với toán học, triết học bao gồm cả những sự việc không thể định lượng đo lường được như khi triết học bàn về cái đẹp, cái giá trị, cái luân lý, v.v.
Bên cạnh đó triết học cũng bàn về các hiện tượng thiên nhiên như trong ngành Natural Philosophy. Đây là tiền thân của ngành vật lý sau này, và cũng là cơ sở cho các ngành khoa học khác một khi lý luận được dựa trên nền tảng và được kiểm chứng với các hiện tượng khách quan.
Sự thành công vượt bực của khoa học, nhất là từ thời kỳ Phục Hưng chỉ khoảng 400 trăm ngắn ngủi trước đây trong cả một lịch sử lâu dài của nhân loại là một điều kỳ diệu. Và vẫn còn là một điều bí ẩn. Bí ẩn ở chổ là tại sao lý luận và toán học của chúng ta tuy chỉ là sản phẩm trừu tượng của tư duy con người lại có thể áp dụng thành công vào cái thế giới khách quan ngoài kia, kể cả việc giải thích và tiên đoán các hiện tượng chưa từng thấy? Đây cũng là điều nhà vật lý Eugene Wigner phải gọi là “cái hữu hiệu vô lý của toán học trong các khoa học tự nhiên.” (“The unreasonable effectiveness of mathematics in the natural sciences.”)



nhà vật lý Eugene Wigner phải gọi là “cái hữu hiệu vô lý của toán học trong các khoa học tự nhiên.” (“The unreasonable effectiveness of mathematics in the natural sciences.”)










Có thuyết cho rằng bộ óc con người đã phải trải qua một quá trình chọn lọc và phát triển hằng bao nhiêu triệu năm nên trong cái tư duy của chúng ta đã không khỏi phần nào phản ánh cái môi trường thiên nhiên ngoài kia.
Nếu Triết Học được coi là trái tim thì Khoa Học có thể được so sánh với cái đầu. Cái đầu khoa học cần sự kiểm chứng từ các dữ kiện ngoài kia; trong khi trái tim triết học lại đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi bao quát qua cái tư duy trong cái tiểu vũ trụ trong con người.
**
Ở đâu có loài người là có tư duy, lý luận, quan sát, kiểm chứng và có khoa học. Triết học, toán học và khoa học đã xuất hiện dưới dạng này hay dạng khác ở Đông Phương lẫn Tây Phương từ lâu đời. Nhất là các quan sát về thiên văn học –phần nào là do nhu cầu cần biết về thời tiết, mùa màng trong việc canh nông, trồng trọt.
Bổng dưng vào thế kỷ thứ 16, cách mạng khoa học bùng nổ ở phương tây, dẫn đến những thành công kỳ diệu khi toán vi phân và tích phân của Newton và Liebniz được đưa vào vật lý vào thế kỷ thứ 17. Và chỉ hơn trăm năm ngắn ngủi sau đó, vào thế kỷ thứ 19, Charles Darwin đã đề xướng Thuyết Tiến Hóa để giải thích cái nguồn gốc của những sự sống muôn hình muôn vẽ trên mặt đất này. Đầu thế kỷ 20 nhân loại lại chứng kiến những bước tiến vượt bực của ngành vật lý hiện đại, của ngành điện toán, và của khoa học nói chung.
**
Thế kỷ 17 mở một bước tiến vĩ đại trong việc nghiên cứu khoa học khi Isaac Newton đặt nền tảng cho Cơ Động Lực Học, Quang Học và Thuyết Trọng Trường. Mặc dù cho tới nay vẫn còn những tranh cãi Newton hay Leibniz ai là người đầu tiên tìm ra môn toán vi tích phân, nhưng nhân loại đã nhờ môn toán này để bước đi những bước thật dài khi Newton đã áp dụng nó vào bộ môn vật lý.



Thế rồi cách mạng kỷ nghệ bùng nổ sau khi James Watt khai thác được máy chạy bằng hơi nước. Thuyết Nhiệt Động Lực Học ra đời để nghiên cứu các hiệu năng và giới hạn của các động cơ nhiệt. Quan trọng nhất là khái niệm Entropy được đề xướng trong việc rút tỉa năng lượng và công suất hữu ích từ nhiệt lượng. Chính khái niệm Entropy này đã được áp dụng để giải thích cho cái một chiều, không bao giờ quay trở lại, của dòng chảy thời gian.

(Về sau, khái niệm Entropy cũng đóng một vai trò quan trọng trong ngành tin học của thế kỷ 20 trong các công trình của Claude Shannon.)
Dựa trên những thành công vượt bực này, các ngành triết học, khoa học tự nhiên và xã hội khác đã trổ hoa rực rỡ. Charles Darwin đưa ra Thuyết Tiến Hóa, sau rất nhiều đắn đo vì ông biết rằng nó sẽ gây ra nhiều sóng gió tranh cãi, nhất là với các nhà tôn giáo thần học. Việc cơ giới hóa đã giúp Anh quốc và các nước phương tây khác bành trướng chế độ thực dân khắp thế giới. Chế độ quân chủ thay nhau sụp đổ ở Âu Châu, và được thay thế bằng chế độ dân chủ tư bản phôi thai. Karl Marx đã dựa trên những biến động xã hội trong thời kỷ nghệ hóa để đưa ra các quan điểm của mình trong cuốn Tư Bản Luận. Chẳng may, Lenin và các bạo chúa về sau đã dùng nó như một cứu cánh để áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên hơn một nửa nhân loại –mang lại đau thương cho biết bao con người, mãi cho tới ngày hôm nay.





**
Khoa học tưởng chừng đã lên đến tột đỉnh vào cuối thế kỷ 19, chẳng còn gì để khám phá nữa, ngoại trừ một vài hiện tượng có vẻ chưa được giải thích thỏa đáng. Nhưng chính chỉ một vài hiện tượng lẻ loi tưởng như ngoại lệ đó lại là ngòi nổ, phá tung nền khoa học cổ điển của vài thế kỷ trước, mở đường cho những bước tiến vĩ đại hơn cả khi trước.
Cơ học của Newton chỉ xấp xỉ đúng với những hiện tượng ở vận tốc thấp so với vận tốc ánh sáng. Ánh sáng tuy nhanh nhưng vẫn phải truyền đi với một vận tốc hữu hạn. Có những ngôi sao ở rất xa, xa đến nỗi khi chúng ta ghi nhận được ánh sáng phát đi từ nó thì chính ngôi sao đó đã không còn hiện hữu ở cùng thời điểm đó nữa –nó đã đốt hết nguyên liệu hydrogen của mình và không còn phát sáng nữa. Khoảng cách trong vũ trụ thường được đo lường bằng đơn vị năm ánh sáng, light year, đó là khoảng cách ánh sáng truyền đi trong thời gian một năm. Đây là một đoạn đường dài; nên nhớ là ánh sáng chỉ cần 1.3 giây để đi từ mặt trăng đến trái đất!
Ở các vận tốc cao, cơ học cổ điển phải được thay thế bằng Thuyết Tương Đối Hẹp được đề xướng vào năm 1905 do Albert Eisntein, một kỳ tài trong lịch sử nhân loại, mặc dù lúc ấy ông chỉ là một công chức làm việc văn phòng toàn thời và đã từng bị các thầy toán trung học của mình chê là dốt toán! Thuyết này đã thống nhất không gian và thời gian lại với nhau, không còn riêng lẻ như xưa nữa.
Sự nhất thống này đưa ra những kết luận lạ lùng, gần như là phi lý, trái ngược hẳn với những gì ta có thể cảm nhận được trong đời sống hằng ngày. Nổi tiếng nhất có lẽ là phương trình E = mc^2, thống nhất năng lượng và khối lượng, vật chất và khái niệm. Lạ lùng hơn nữa, có những hiện tượng có vẻ xảy ra cùng một lúc với người quan sát A thì đối với một quan sát viên B khác thì chúng lại xảy ra ở hai thời điểm khác nhau!
Thuyết Tương Đối Hẹp cũng tiên đoán là thời gian có thể kéo dài ra, đi chậm lại khi ta di chuyển ở các vận tốc cao. Có lẽ đây là trường hợp của Từ Thức khi lạc vào thiên thai chỉ có vài ngày mà đã trở thành hàng trăm năm trên mặt đất.
Tất cả những kết luận lạ lùng, dường như không tưởng, này của Thuyết Tương Đối Hẹp nay đã được kiểm chứng bằng nhiều thí nghiệm khác nhau – trong đó những trái bom nguyên tử là một bằng chứng hùng hồn của thuyết tương đối.
Đúng là sự thật nhiều khi còn ly kỳ, và đẹp, hơn cả tiểu thuyết!
**

Thiên tài của Albert Einsein không chỉ dừng ở đó. Chỉ mười năm sau, vào năm 1915, ông đã một mình đưa ra Thuyết Tương Đối Rộng, thay thế hoàn toàn thuyết trọng trường trước đây của Isaac Newton. Một lần nữa qua những phương trình toán học, ông đã đồng hóa năng lượng, trọng trường và cấu trúc của không gian và thời gian. Năng lượng và vật chất, theo thuyết này, sẽ uốn cong cái không gian và thời gian chung quanh nó; và các độ cong không gian thời gian này là sức hút trọng lực biểu kiến đối với vật chất ở chung quanh.
Thuyết Tương Đối Rộng cũng đã được kiểm chứng nhiều lần qua nhiều thí nghiệm khác nhau, nổi tiếng nhất là việc xác nhận góc độ lệch của các tia sáng khi đi qua trọng trường của mặt trời.
**
Ở mặt khác, khi ta đi từ những kích thước to lớn của cuộc sống hằng ngày để tiến đến các vật chất nhỏ bé như phân nguyên tử thì cơ học Newton cũng không còn áp dụng được nữa. Nó phải được thay thế bằng Cơ Học Lượng Tử. Thuyết này, tương phản với thuyết tương đối chỉ do một mình Einstein đề ra, lại được rất nhiều người đóng góp xây dựng. Trong đó phải kể đến nhà vật lý người Đức trẻ tuổi Werner Heisenberg, cũng là người được Adolf Hitler giao cho trọng trách chế tạo bom nguyên tử cho Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến. Sau chiến tranh, người ta cho rằng Đức sở dĩ đã không có được một quả bom nào có lẽ vì Heisenberg đã cố tình trì hoãn trong việc nghiên cứu, vì ông không muốn thấy dân tộc ông lại mang thêm quá nhiều tội ác với một trái bom nguyên tử trong tay.




Chúng ta sẽ nhiều lần trở lại thuyết cơ lượng tử trong những bài kế tiếp. Chỉ cần nhấn mạnh ở đây là thuyết này đưa ra những kết luận vô cùng quái dị. Quái dị đến nỗi chính Einstein là người đã kịch liệt chống đối nó cho tới cuối cuộc đời của mình. Nhưng dù Einstein là một vĩ nhân thì sự thật vẫn là sự thật. Thuyết cơ lượng tử đã thành công trong mọi lãnh vực khoa học công nghệ hiện tại. Từ hóa học, y khoa cho đến những phát minh về laser, máy tính v.v. đều dựa vào những phương trình toán của cơ lượng tử.
**
Trong khi đó ở phương đông lại không có những bước tiến khoa học tương tự, mà chỉ có các hệ thống triết học lâu đời –nhưng cũng không kém phần sâu sắc. Tôi muốn nói đến ở đây một vài hệ thống triết học phương đông cổ xưa chứa đựng trong Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh, và Phật giáo (mà tôi coi là một hệ thống triết học hơn là một tôn giáo).
**

 

Phật Giáo bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên khi được Phật Tổ Thích Ca (Siddhartha Gautama) truyền bá đầu tiên ở bán đảo Ấn Độ. Đây có lẽ là một triết lý về con người và vũ trụ hơn là một tôn giáo với những giáo điều cứng nhắc, ràng buộc. Tuy có nhiều điểm khởi nguồn từ Ấn Độ Giáo, cái tên gọi “Phật Giáo” đúng nghĩa của nó chỉ là “Nguyên lý của vạn vật.” Phật Giáo chưa bao giờ chấp nhận một đấng tối cao, sáng tạo và ngự trị trên vũ trụ này. Chữ “Phật” thật ra chỉ mang ý nghĩa là “người tỉnh thức” hay “người giác ngộ,” thay vì một vị thần vị thánh có phép nhiệm mầu.
Chuyện kể rằng có lần Phật Thích Ca đến một bờ sông thì gặp một thầy tu Bà La Môn, ông này khoe rằng mình có thể đi được trên mặt nước và đã phải bỏ hết 40 năm cuộc đời để khổ luyện thành công mỗi một bộ môn này. Rồi ông hỏi ngược lại là Thích Ca có phép nhiệm mầu gì. Phật Thích Ca đáp rằng: “Tôi tuy không đi được trên nước nhưng chỉ cần bỏ ra vài xu cho người đưa đò là có thể qua được bờ bên kia, rồi còn để dành được 40 năm để tu học điều giác ngộ và cứu rỗi chúng sanh.
Phật Giáo không đặt nặng vấn đề nguồn gốc của vũ trụ mà chỉ chú trọng về những khổ đau của con người, nguồn gốc và phương pháp giải tỏa các đau khổ đó. Đặc biệt là trong nhánh Thiền Tông của phái Đại Thừa chỉ dựa trên hai nguyên lý cơ bản: một là Phật Tổ tuy xuất thân là người nhưng đã đạt được sự giác ngộ, và hai là những con người chúng ta theo lời Thích Ca thì đều có khả năng để giác ngộ. Ngoài ra, tất cả những điều khác trong ngàn cuốn kinh Phật chỉ là thứ yếu. Giác ngộ ở đây có nghĩa là đạt được sự hiểu biết và thực hành được trong cuộc sống thực tại hằng ngày cái chân lý vô ngã, vô thường của vạn vật.
Cái “Không” của Phật Giáo như thế có thể đem so sánh với cái Vô Cực của Kinh Dịch, cái Đạo của Đạo Đức Kinh, và nhất là cái “Không” (Vacuum) của ngành vật lý hiện đại.
**




Kinh Dịch được coi là một trong những cuốn sách đầu tiên của nhân loại, ngay khi loài người chưa có chữ viết. Xuất xứ từ khoảng 3000 năm trước công nguyên, nó được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa, và được áp dụng vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, y học …v.v… Về sau nhiều học giả đã thêm vào nhiều phần diễn dịch nội dung của bộ sách này.
Kinh Dịch được nhiều người coi là một bộ sách về bói toán, nhưng thật ra nó lại chứa đựng nhiều nhân sinh quan và vũ trụ quan vô cùng lý thú.



Chữ Kinh ý nói là một tác phẩm chứa đựng những quy luật không thay đổi theo thời gian. Lý thú thay, cái không thay đổi được đề cao trong Kinh Dịch lại chính là cái luôn thay đổi (từ chữ “dịch”) của mọi hiện tượng, trong thiên nhiên cũng như trong xã hội con người. Mọi sự đổi thay là do sự tương tác không ngừng nghĩ giữa hai tính chất tương phản được gọi âm và dương hàm chứa trong mọi sự vật. Và vì sự thay đổi cần phải có thời gian, hay chính sự thay đổi lại định nghĩa nên cái khái niệm thời gian, nên Kinh Dịch cũng bàn rất nhiều về chữ “thời”: cái đúng sai chẳng qua cũng chỉ là và không hơn dược cái hợp thời cái và hợp vị (tương đối) của biến cố đó mà thôi.
**


Thuở còn trẻ tôi đã tìm đọc Đạo Đức Kinh, một phần cũng vì hiếu kỳ khi có người cho rằng đó cũng có thể được coi là kỳ thư về võ thuật đầu tiên của nhân loại. Nhưng dù đã cố gắng đọc nhiều lần tôi vẫn không hiểu bao nhiêu vì mình thiếu hẳn vốn liếng Hán Việt. Về sau khi đọc Đạo Đức Kinh qua một bản tiếng Anh tôi mới thấm thía được phần nào cái hay của nó.
Cuốn sách này chỉ võn vẹn khoảng 5000 chữ, tương truyền do Lão Tử viết ra vào khoảng năm 600 trước công nguyên. Viết xong trong vòng vài ngày, Lão Tử cỡi trâu đi mất hút không lưu lại dấu tích gì cho hậu thế. Đây không phải là một cuốn kinh tụng niệm thuần về đạo đức luân lý của một tôn giáo. Cái tên của cuốn sách là được ghép từ chữ Đạo (là con đường, là sự thật tuyệt đối) của phần đầu và chữ Đức (như trong chữ đức hạnh) được lấy từ phần hai của cuốn sách.
Xin được mở ngoặc đây là một thời điểm lạ lùng trong lịch sử loài người khi những nhà tư tưởng lớn như Phật Thích Ca, Khổng Tử và Lão Tử lại xuất hiện xấp xỉ cùng một lúc với nhau.
Đạo Đức Kinh đề cao cái “vô vi” (không làm những điều trái ngược với tự nhiên) và cái “nhân ái.” Nó cũng chứa đựng nhiều nhân sinh quan và vũ trụ quan tương tự như Kinh Dịch.
Nam Hoa Kinh của Trang Tử cũng chứa đựng rất nhiều tư tưởng của Đạo Đức Kinh và lại có phần đi xa hơn trong phương cách sống vô vi của Lão Tử.
**
Đạo Đức Kinh có câu:
“Tri giả bất bác, bác giả bất tri” — người biết thì không nói, kẻ nói thì không biết.
Tuy vậy, trong những bài viết kế tiếp, tôi xin làm “kẻ không biết” để nói lên một vài điểm tương đồng giữa khoa học phương tây và triết học phương đông. Đây là một vấn đề vô cùng to lớn và sâu rộng. Nhưng tôi hy vọng là nêu ra một vài tương đồng ở những điểm giao thoa gặp gở, các luồng tư tưởng có thể giao lưu để sinh ra những ý tưởng và những khám phá mới.
Tôi xin làm “kẻ không biết” vì tôi đồng ý với cái nhận xét của nhà vật lý người Đan Mạch Niels Bohr rằng:
“đối nghịch với sự thật hiển nhiên và tầm thường dĩ nhiên là sự không thật; nhưng đối xứng với một sự thật sâu xa lại là một sự thật to tát khác.” (“the opposite of a trivial truth is false, the opposite of a great truth is another great truth” – Niels Bohr)
Niels Bohr. Nguồn: izquotes.com
Niels Bohr. Nguồn: izquotes.com
Tôi cho rằng tuy khác biệt ở nhiều điểm biểu kiến nhưng khoa học phương tây và triết học đông phương lại có nhiều điểm tương đồng trong cốt lõi. Tựu trung là vì chúng cùng đi tìm một sự thật chung, tuyệt đối dù có bằng những phương thức, con đường khác nhau. Như trong ví dụ võ thuật, dù có nhiều môn phái với các khởi đầu và chủ điểm khác nhau như cương, nhu, quyền pháp hay binh khí thì đỉnh tối cao của võ học sẽ không còn ranh giới giữa chiêu pháp hay môn phái nữa.
Rồi con đường nào cũng sẽ dẫn tới La Mã — nếu ta tránh đi vào ngỏ cụt hay ngủ gục trên con đường mình đang đi.
**
Nước nhà đang trong tình trạng khủng hoảng về mọi mặt –từ chủ quyền, chính trị, kinh tế, xã hội cho đến văn hóa. Trong việc đưa ra những tương đồng với nền khoa học hiện đại, tôi muốn nhấn mạnh ở đây cái cốt lõi triết lý của văn hóa đông phương mà Việt Nam ta cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng. Và cũng muốn nhắc nhở chính mình và mọi người là chúng ta đừng để bị mê hoặc mà lạc đường đi vào ngỏ cụt trong việc thờ cúng mê tín dị đoan, bói toán nhảm nhí.
Để mất một đất nước, để mất một văn hóa là đánh mất muôn đời một giống nòi. Hãy tỉnh giấc. Đừng trông chờ vào một thế lực bên ngoài nào — dù đó là nhân lực ngoại bang hay là thánh lực thần linh. Chỉ có ta mới có thể tự cứu lấy chính mình, chỉ có chúng ta mới có thể cứu được dân tộc mình.
Tháng 6, 2013


Khoa Học Phương Tây và Triết Học Phương Đông (2)   
Kiều Tiến Dũng

Có những điều cả ngàn lời cũng không đủ, nhưng cũng lại có những điều một chữ cũng đã quá thừa.
Bài 2: Giới hạn của ngôn từ và văn tự
Có những điều cả ngàn lời cũng không đủ, nhưng cũng lại có những điều một chữ cũng là quá dư thừa.
Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 và cũng là vị tổ cuối cùng sau Phật Thích Ca của Thiền Tông Ấn Độ. Khi qua Trung Hoa Đạt Ma được vua nhà Lương mời vào tiếp kiến. Nhưng thấy vị vua này không lãnh hội được Phật Giáo mà chỉ cầu cạnh công đức qua việc xây chùa và thỉnh kinh, nên ông đã bỏ đi đến chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, ngồi quay mặt vào vách đá diện bích chín năm trời. Về sau, Đạt Ma trở thành Sơ Tổ, vị tổ đầu tiên, của Thiền Tông Trung Quốc. Ông còn được người đời cho là tác giả của hai bộ kỳ thư võ thuật tên là Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh, nay đã thất truyền.
(Kim Dung cũng đã dựa vào Dịch Cân Kinh để cứu Lệnh Hồ Xung khỏi chết trong cơn bệnh hiểm nghèo, hầu Lệnh Hồ Đại Ca có thể tiếp tục Tiếu Ngạo Giang Hồ.)
Bodhidharma. Nguồn: 4 Yoshitoshi, 1887.
Bodhidharma. Nguồn: 4 Yoshitoshi, 1887.
Chuyện kể rằng Bồ Đề Đạt Ma đến lúc có ý muốn hồi hương, trước khi về Thiên Trúc, ông đã gọi các đệ tử đến để mỗi người một trình bày sở đắc của mình.
Đệ tử Đạo Phó thưa: “Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự.” Đạt Ma đáp: “Ông được lớp da của tôi rồi.”
Ni cô Tổng Trì nói: “Chỗ giải của tôi như cái mừng vui khi thấy được nước Phật, thấy được một lần, sau đó không thấy lại được nữa.” Đạt Ma nói: “Bà được phần thịt của tôi rồi.”
Đệ tử Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch rằng: “Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không một pháp nào có thể đạt được.” Đạt Ma đáp: “Ông được bộ xương của tôi rồi.”
Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả chấp tay lễ bái Đạt Ma rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Đạt Ma bảo: “Ngươi đã được phần tuỷ của ta.” Rồi ông trao chánh pháp cho Huệ Khả để vị này trở thành vị tổ đời thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa.
Có những điều cả ngàn lời cũng không đủ, nhưng cũng lại có những điều một chữ cũng là quá dư thừa.
**
Cái im lặng của Huệ Khả thật đúng ý của Đạt Ma về pháp tu của Thiền tông, khác hẳn với các pháp tu khác trong đạo Phật, như được thâu gọn trong bốn câu kệ:
Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật”
Tức là:
Chẳng cần lập văn tự
Truyền đạo ngoài giáo lý
Chỉ thẳng vào tâm người
Thấy tánh ắt thành Phật
Đạt Ma Tổ Sư đã nhận ra rằng tới chỗ cứu cánh thì không còn văn tự, ngôn ngữ nào, kể cả kinh điển, có thể tỏ bầy được.
**
Đó là vì ngôn từ của loài người trong bất kỳ một văn hóa nào cũng đều có những giới hạn không thể vượt qua được trong các cố gắng để diễn đạt trọn vẹn những gì tuyệt đối, cũng như trong việc giải thích một số kinh nghiệm sống.
Lấy ví dụ của những bài đồng dao với câu cú ngây ngô, thật ra lại chứa đựng nhiều chân lý. Chẳng hạn như bài đồng dao: “Kỳ Nhông là ông Kỳ Đà, Kỳ Đà là cha Tắc Ké, Tắc Ké là mẹ Kỳ Nhông,” tuy ngây ngô nhưng nó đã nói lên được cái vòng lẫn quẩn của ngôn ngữ.
Đó là bản chất của mọi ngôn ngữ do loài người đặt ra, dù đã được bồi đắp qua bao thế hệ. Vì để định nghĩa một từ ngữ, chúng ta lại phải dựa vào những từ ngữ sẵn có khác. Nhưng các từ ngữ sẵn có khác cũng lại cần các từ ngữ khác nữa. Cứ thế mà lan rộng ra cho đến khi ta phải quay trở lại cái từ ngữ ban đầu –do đó tạo ra cái vòng định nghĩa lẫn quẩn.
Còn không thì đến một lúc nào đó ta phải chấp nhận hay đồng ý cái ý nghĩa của một từ ngữ nào đó, không cần định nghĩa nữa mà chỉ dựa vào những kinh nghiệm chung mọi người đều có thể chia xẻ được. Nhưng với các kinh nghiệm dù mọi người đều phải trải qua thì chúng nhiều khi lại mang các ý nghĩa khác nhau đối với mỗi một người. Thí dụ như cái đau tinh thần tuy cũng là cái đau nhưng đâu có cái đau nào lại giống cái đau nào. Hay có những kinh nghiệm không phải ai đấy cùng đều đã sống qua, như trong ví dụ làm sao định nghĩa được tình yêu cho những kẻ chưa biết yêu và chưa được yêu.
Lúc đó, ngôn ngữ chỉ có thể diễn đạt phần nào sự việc một cách tiệm tiến, nhưng lại không được trọn vẹn.
**
Đấy cũng là cái giới hạn trong hội họa. Hội họa là một phần nới rộng của ngôn ngữ trong việc mô tả cái cảnh sắc, và diễn đạt những ý tưởng, những cảm xúc của con người. Nhưng khi vẽ mặt trước của một vật ba chiều lên trên một trang giấy hai chiều thì ta không thể diễn đạt được cái mặt khuất phía đằng sau của vật thể đó. Chúng ta đã phải hy sinh phần nào sự thật trong sự diễn tả đó.
“À,” có người sẽ nói, “nhưng ta đã có nghệ thuật điêu khắc để trình bày các vật thể ba chiều đó.” Vâng, nhưng làm sao ta có thể trưng bày được cái mặt bề trong của chúng, khi ta chỉ có thể nặn ra được cái hình tượng bề ngoài?
Trong một cố gắng để phần nào vượt qua cái giới hạn này, trường phái tranh lập thể (cubism) được ra đời –tiêu biểu và nổi tiếng nhất là những bức tranh của họa sĩ Pablo Picasso.
Lấy ví dụ bức tranh tuyệt tác mang tên Người Đàn Bà Đang Khóc, The Weeping Woman, do Picasso vẽ vào năm 1937. Thọat nhìn thì đấy là một tranh vẽ quái dị, không cân xứng với những gì đôi mắt ta thường thấy ở hình thể của một con người. Đó là vì Picasso đã trình bày mặt trước lẫn mặt sau của gương mặt của một người đàn bà đang khóc lên trên không gian của một khung vải hai chiều. Cái kiểu “chấp vá” này của những bức tranh lập thể đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn mới, mặc dù đó không phù hợp với cái nhìn ta có được qua cái nhãn quan thường ngày của mình.
La Femme qui Pleure I (Weeping Woman I) Pablo Picasso
La Femme qui Pleure I (Weeping Woman I)
Pablo Picasso
Do đó, tranh lập thể cũng phải chịu những giới hạn và không thể diễn tả được trọn vẹn cái thực thể ngoài kia.
**
Về điểm này, một bức tranh lập thể có thể được đem so sánh với một bản nhạc hòa tấu.
Âm nhạc cũng lại là một sự nới rộng theo một chiều hướng khác của ngôn ngữ trong việc ghi nhận lại âm thanh, và diễn đạt ý tưởng và cảm xúc của con người. Từ những nốt nhạc cao thấp, dù đó là âm giai ngũ cung hay âm giai tám bực, ta có thể nối chúng lại với nhau, cùng xen kẻ với các khoảng lặng thinh, để tạo thành nhừng giai điệu với những tiết tấu nhanh chậm khác nhau. Các nhịp điệu nhanh chậm so với nhịp tim bình thường của ta lại có khả năng tạo cho ta các cảm xúc khác nhau. Các nhịp dồn dập thường gây những cảm xúc vui nhộn ở người nghe; còn các nhịp chậm hơn nhịp tim bình thường lại làm cho tâm hồn ta lắng xuống, tạo cơ hội cho những nỗi buồn vu vơ chen lấn vào.
Như thế vẫn còn chưa đủ. Tương tự như một bức tranh lập thể, một bài nhạc hòa tấu lại còn đem các nốt nhạc chồng chất lên nhau qua những hợp âm, và các giai điệu quấn quít đuổi theo nhau trong các bè nhạc của các giọng hát hay nhạc khí khác nhau.
Nhưng ở một mặt khác âm nhạc cũng lại bị cái giới hạn là nó không thể diễn tả trung thực được những mầu sắc như nghệ thuật hội họa. Âm nhạc chỉ có thể truyền đạt được phần nào cái thực thể âm thanh ngoài kia. Phần nào là vì tai của chúng ta chỉ có thể cảm nhận được các rung động không khí trong khoảng tần số từ 20 Hz cho đến khoảng 20 KHz.
**
Ngôn ngữ, hội họa, điêu khắc, âm nhạc thì đã vậy, đã phải bị giới hạn ngay trong bản chất của chúng trong việc trình bày một thực thể. Mặt khác, toán học cũng được coi là một ngôn ngữ, dù đó là ngôn ngữ của thiên nhiên. Như thế thì toán học có bị một giới hạn cố hữu nào không?
Lúc đầu người ta cho là không, nhưng đó chỉ là dựa vào trực giác mà thôi. Toán học phải cần có chứng minh bằng lý luận, không thể chỉ có trực giác không thôi.
Đối tượng thông thường của toán học là những con số hữu hạn lẫn vô hạn, những đường cong hình thể, những khái niệm trừu tượng, và nhất là những liên hệ tương quan giữa chúng với nhau.
Bắt đầu từ các tiền đề được chấp nhận không cần chứng minh, người ta dùng lý luận suy diễn để đi từng bước một vững chải đến các định lý và hệ quả. Với những tiền đề khác nhau, ta có những hệ thống toán khác nhau. Như với tiền đề “từ một điểm ở ngoài một đường thẳng ta chỉ có thể vẽ một đường song song với đường thẳng đó mà thôi” thì ta có cái gọi là Hình Học Euclide. Nhưng nếu ta cho rằng từ điểm đó ta không thể có được đường song song nào thì đó lại là tiền đề của Hình Học Riemann. Còn Hình Học Lobatchewsky thì lại cho rằng ta không phải chỉ có một mà có vô số đường song song.
Các hệ hình học này đều đúng trong phạm vi của nó, mặc dù chúng có những áp dụng khác nhau. Chẳng qua là vì từ những điểm khởi đầu khác nhau thì hệ quả sẽ xa biệt vậy thôi.
**
Thông thường ta phải nhờ vào trực giác của mình để đi tìm một vài mệnh đề trong muôn vàn các mệnh đề để rồi chứng minh coi nó là đúng hay sai.
Tuy vậy, cho đến cuối thế kỷ 19 người ta vẫn hy vọng rằng toán học thật sự là một hệ thống máy móc không cần trực giác. Chỉ cần cho vào đó những tiền đề rồi chờ bộ máy lý luận vận hành là ta sẽ có được những sự thật, những định lý. Và ta cũng sẽ biết đâu là điều không thật, một khi luận lý toán học cho ta biết điều đó là sai.
Nhưng như vậy thì toán học cũng chẳng khác gì một bộ máy làm sausage –bỏ thịt vào một đầu, đầu kia sẽ có sausage để ăn barbeque!
Với cái mơ ước là loài người sẽ cơ giới hóa được toán học, nhà toán học lỗi lạc David Hilbert đã khởi xướng cái thách thức để tìm ra được một tập hợp những tiên đề thích hợp và không mâu thuẩn với nhau, và một phương thức máy móc để có thể đi từ các tiên đề này đến tất cả các định lý và hệ quả trong toán học. Nếu được như thế con người sẽ không cần phải bỏ công chứng minh cho từng định lý, hệ quả một — toán học nói chung sẽ không còn gì để khám phá nữa!
Nhưng rồi đến đầu thế kỷ 20 cả thế giới đã phải sững sờ và kinh ngạc với cái khám phá của một chàng thanh niên người Áo trẻ tuổi tên gọi Kurt Gödel.
**
Gödel đã chứng minh được là số học (và nói chung là toán học) tự nó không bao giờ được trọn vẹn qua cái “Định lý của sự không trọn vẹn của toán học” (Incompleteness Theorem). Nói một cách nôm na là có những mệnh đề, giả thuyết mà không một phương thức toán học máy móc nào có thể khẳng định được đây là các mệnh đề đúng (để nâng cấp các mệnh đề này lên bậc định lý) hay khẳng định được đó là các mệnh đề sai.
Để minh họa phần nào cái định lý tuyệt vời này, chúng ta hãy bỏ một phút suy nghĩ về câu văn sau đây: “Đây là một mệnh đề sai.”
Cái mệnh đề trong ngoặc kép trên đúng hay sai? Nếu nó đúng thì những gì nó nói phải là đúng; nhưng chính nó lại nói nó là sai cơ mà! Ngược lại, nếu nó sai thì những gì nó nói là không đúng; nhưng chính nó lại nói nó là sai, do đó nó phải đúng!
Godel. Nguồn: www.quickmeme.com
Godel. Nguồn: www.quickmeme.com
Cứ thế ta phải vướng mắc trong cái vòng lẫn quẩn; không thể khẳng định được một câu văn đơn giản đó là điều đúng hay sai! Đây là cái giới hạn luôn hiện hữu của chính toán học –chẳng khác gì cái giới hạn vốn có trong ngôn ngữ thông thường của loài người.
Gödel đã dùng chính toán học làm đề tài cho toán học. Qua việc tự mình nhìn lại mình, Gödel đã chứng minh được cái giới hạn của toán học!
Một thí dụ khác, định lý này đã minh họa là có những thế cờ xếp sẵn trên bàn cờ, tuy trông rất đơn giản nhưng chúng ta sẽ không bao giờ chứng minh được là từng bước từng bước một ta có thể đi đến các thế cờ xếp sẵn này từ các quân cờ được dàn quân một cách nguyên tắc từ lúc khởi đầu hay không!
Có những sự thật toán học mà chính toán học cũng không thể khẳng định được. Và có những sự không thật mà chính toán học cũng không phủ định được. Có những điều tuy nằm trong phạm vi của toán học mà chính nó lại không diễn tả được.
Một hệ quả sâu xa và quan trọng khác của định lý Gödel này là không một hệ thống máy móc, cơ hóa nào có thể thay thế được hay bao trùm được cái thiên hình vạn dạng, cái uyển chuyển trong sự sáng tạo của con người — dù đó là sự sáng tạo trong toán học hay trong nghệ thuật! Và như thế sáng tạo mãi mãi sẽ là vô hạn định.
**
Chính những cái giới hạn vốn phải có này dù là trong ngôn ngữ hay trong toán học cũng là những cái giới hạn mà vật lý và khoa học phải thừa hưởng trong việc nghiên cứu và xác định cái sự thật khách quan ngoài kia. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong bài kế tiếp.
**
Triết học đông phương cũng không thoát khỏi cái giới hạn của ngôn ngữ đó. Kinh Kim Cang của nhà Phật có câu:
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
(Kinh Kim Cang
)
Tức là:
Nếu do sắc mà thấy ta
Do âm thanh mà cầu ta
Thì người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.
Chữ Như Lai ở đây là chỉ pháp thân Phật, chính là tánh giác sẵn có nơi mọi chúng sanh. Nếu chạy theo để cầu cái Phật có thể diễn tả được bằng sắc tướng và thanh âm, thì đó là đi cầu cái Phật không thật. Nên Kinh đã khẳng định đó là việc: “hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Vì cái Phật, cái giác ngộ chân chính, không có hình dạng, không có tên gọi, chẳng khác gì cái Đạo của Đạo Đức Kinh:
“Đạo khả đạo, vô thường đạo
Danh khả danh, vô thường danh”
(道可道非常道 名可名非常名 無名天地之始 有名萬物之母 - Đạo khả đạo phi thường đạo/ Danh khả danh phi thường danh/ Vô danh thiên địa chi thỉ/ Hữu danh vạn vật chi mẫu. - Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo thường hằng, tên mà có xưng gọi được thì không phải là tên vĩnh cửu.  Không gọi là khởi đầu của trời đất, có gọi là mẹ sanh của muôn vật.).Nguồn: http://blog.yahoo.com/
(道可道非常道 名可名非常名 無名天地之始 有名萬物之母 – Đạo khả đạo phi thường đạo/ Danh khả danh phi thường danh/ Vô danh thiên địa chi thỉ/ Hữu danh vạn vật chi mẫu. – Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo thường hằng, tên mà có xưng gọi được thì không phải là tên vĩnh cửu. Không gọi là khởi đầu của trời đất, có gọi là mẹ sanh của muôn vật.) Nguồn:http://blog.yahoo.com/
Phải chăng đây là vì cái giới hạn của ngôn ngữ nói chung nên cái Đạo mà định nghĩa được bằng ngôn từ thì đó không phải là cái Đạo thật; cái Tên có thể gọi được thì đó không phải là cái Tên vĩnh cửu.
Cũng vì vậy nên Đạo Đức Kinh còn nhấn mạnh thêm rằng:
“Tri giả bất bác, bác giả bất tri”
Người biết được chân lý thì không nói, không phải vì không muốn nói mà phải chăng là vì không thể nói lên được bằng ngôn từ của loài người. Và những gì ta có thể nói được, gọi được thì đấy không phải là sự thật tuyệt đối –nên đành phải mang tiếng “bất tri” là vậy.
**
Có những kinh nghiệm ta phải sống qua mới cảm được, nhưng chẳng có ngôn từ nào có thể diễn tả cho hết được. Nói chi đến vấn đề giác ngộ, đạo lý, toán học, khoa học cho xa xôi, chính ngay cái tình yêu nam nữ hầu như trong chúng ta ai ai cũng đã từng trải qua, nhưng có ai đã định nghĩa được yêu là gì chưa? Hay là ta chỉ có thể nói lên những khía cạnh riêng lẻ, vụn vặt của nó –qua cái nhịp tim đập nhanh, qua cái mất hồn trong nắng nhạt, trong mây nhè nhẹ, với gió hiu hiu?
Những đứa bé chưa đến tuổi yêu thì chưa biết yêu là gì đã đành, nhưng ngay cả những ai đang yêu cũng không thể nào nói hết được cái tình cảm đó với người mình yêu cho trọn vẹn qua ngôn từ hạn hẹp của loài người. Nên cuối cùng cũng đã phải đành chịu thua:
Anh yêu em,
Anh chỉ nói thế thôi
Nói thế thôi cũng đủ rồi
Vì tình từ tim mà ngôn ngữ từ môi

(Vô danh)
Có những điều cả ngàn lời cũng không đủ, nhưng cũng lại có những điều một chữ cũng đã quá thừa.
Tháng 6, 2013

No comments:

Thời Sự "Nóng"





------------------------------------------

---------------------------------------------------------
Vân Anh -Ngày 1 tháng 10 Hà Nội Chính Thức Bán Nước Cho Bắc Kinh
----------------------------------------





There was an error in this gadget